Ứng dụng khoa học và công nghệ: Còn thiếu cả bề rộng và chiều sâu

LTS: Để “đi tắt đón đầu”, tạo ra được những sản phẩm có “thương hiệu”, nhất là trong bối cảnh đang thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ như hiện nay, Quảng Ninh đã xác định, ứng dụng KH&CN là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội...

Mới chỉ đạt bề nổi

Theo số liệu tổng hợp từ Sở KH&CN, trong 5 năm gần đây, tỉnh đã triển khai được 68 dự án ứng dụng tiến bộ KH&CN tại 12/14 địa phương trong tỉnh với tổng kinh phí hỗ trợ trên 4,9 tỷ đồng. Trong đó, riêng năm 2011, thực hiện 17 nhiệm vụ với tổng kinh phí hơn 1,6 tỷ đồng. Các dự án được phân bổ chủ yếu trên 4 lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản. Ngoài ra, tỉnh cũng tổ chức thành công 4 Hội thi sáng tạo; trong đó, 3 Hội thi Sáng tạo kỹ thuật và 1 Hội thi chuyên đề về nông nghiệp, nông thôn, thu hút được 324 giải pháp của các tác giả, nhóm tác giả tham gia. Thành công lớn nhất mà các Hội thi này mang lại chính là đã động viên, khuyến khích được các tổ chức, cá nhân tích cực ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất. Vì hầu hết các giải pháp tham gia Hội thi đều được hình thành từ thực tiễn sản xuất, gắn với mục đích khắc phục khó khăn, giảm giá thành và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

Ứng dụng KH&CN trong xử lý chất thải ở Bệnh viện Đa khoa TX Quảng Yên.
Ứng dụng KH&CN trong xử lý chất thải ở Bệnh viện Đa khoa TX Quảng Yên.

Bên cạnh những hoạt động trên, một số ngành, doanh nghiệp lớn trong tỉnh cũng đã dành hàng chục tỷ đồng để đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong quản lý, điều hành và phục vụ sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn như: Ngành Than đã nghiên cứu, đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất theo hướng cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá... ở hầu hết các khâu từ thiết kế mỏ, khai thác hầm lò, khai thác lộ thiên đến sàng tuyển, chế biến, vận tải than, sản xuất cơ khí, thiết bị điện phục vụ khai thác than; thậm chí cả trong lĩnh vực năng lượng mới, vật liệu mới cho khai thác than; quản lý an toàn hoạt động của mỏ; bảo vệ môi trường... Sau ngành Than là ngành đóng tàu với dây chuyền tự động chế tạo phân đoạn phẳng; dây chuyền làm sạch, sơn tổng đoạn trong vỏ đóng tàu; dây chuyền lắp ráp tự động thân tàu chở hàng; ứng dụng các thiết bị trắc đạc Laser trong chế tạo, lắp ráp và kiểm tra vỏ tàu hệ trục chân vịt, trục lái... Hay ngành Vật liệu xây dựng đã áp dụng công nghệ mới như dây chuyền nghiền thô, đùn dẻo, sấy nung nhanh bằng nhiên liệu khí hoá than nguội; công nghệ khí hoá than nung nóng sản phẩm trong lò tuynel...

Tuy rằng hoạt động ứng dụng KH&CN đã được triển khai ở các địa phương, doanh nghiệp trong tỉnh nhưng điểm lại, hoạt động này mới diễn ra chủ yếu ở các doanh nghiệp lớn thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Còn ở các huyện, thị xã, thành phố, chủ yếu vẫn trông chờ vào nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh. Số doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia ứng dụng tiến bộ KH&CN còn rất hạn chế. Vì thế chưa tạo ra được những sản phẩm mang tính cạnh tranh cao. Điều này cũng lý giải cho xu hướng phát triển kinh tế của Quảng Ninh thời gian qua thiếu yếu tố “xanh” trong tăng trưởng. Hiện giá trị sản xuất than vẫn là ngành kinh tế chủ lực; tiếp đến là công nghiệp chế biến và chế tạo. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn là sản phẩm truyền thống như: than, vật liệu xây dựng, nước khoáng... chứ chưa có nhiều sản phẩm mới, sản phẩm thay thế.

Để rộng và sâu

Trong kết quả nghiên cứu đánh giá mới đây của Viện chiến lược và chính sách KH&CN phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch phát triển KH&CN tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012-2020, tầm nhìn đến 2030, các chuyên gia, các nhà khoa học đều nhận định: “Hoạt động đổi mới công nghệ, ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong sản xuất ở Quảng Ninh còn yếu, tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm, chưa có nhiều sản phẩm có thương hiệu. Các doanh nghiệp địa phương chưa tận dụng được cơ hội tiếp cận các công nghệ của doanh nghiệp trung ương đóng trên địa bàn. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công, sử dụng thiết bị công nghệ không đồng bộ, nhiều chủng loại, nhiều thế hệ”. Nguyên nhân của thực trạng này vẫn là vấn đề vướng về vốn, nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận là không ít doanh nghiệp thiếu tính chủ động trong đổi mới, ứng dụng tiến bộ KH&CN. Điều này có lẽ cũng xuất phát từ chính nhận thức của nhiều chủ doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc đổi mới, ứng dụng tiến bộ KH&CN còn hạn chế.

Theo số liệu của Sở KH&CN, mấy năm gần đây, kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN của tỉnh có xu hướng ngày một tăng nhưng chủ yếu lại là ngân sách tỉnh, đạt khoảng 0,5-0,6% GDP. Hàng năm, tỉnh cũng dành khoảng 50-55% kinh phí sự nghiệp KH&CN cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Số kinh phí này lại được phân bổ cho các hoạt động như: Các đề tài, dự án trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ 29,3%; các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp 16,7%; các đề tài, dự án trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn 20,7%; các đề tài, dự án trong lĩnh vực điều tra cơ bản và bảo vệ môi trường 33,3%. Trong khi đó, việc bỏ vốn, đầu tư cho ứng dụng KH&CN của các doanh nghiệp (trừ một số doanh nghiệp lớn thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty) và người dân lại rất khiêm tốn, chỉ chưa đầy 30% tổng kinh phí thực hiện.

Với những thiếu hụt trong ứng dụng tiến bộ KH&CN đã khiến cho hoạt động KH&CN ở Quảng Ninh thời gian qua chưa phát huy được vai trò là động lực then chốt. Chính vì vậy, việc đóng góp cho tăng trưởng kinh tế cũng đạt thấp. Theo ý kiến của ông Hồ Ngọc Luật, Vụ trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương, Bộ KH&CN tại buổi làm việc với tỉnh Quảng Ninh về vấn đề quy hoạch và phát triển KH&CN, Quảng Ninh sẽ phải đẩy mạnh việc tăng cường đầu tư và xúc tiến các hoạt động ứng dụng, đổi mới KH&CN từ phía doanh nghiệp. Và đặc biệt, Quảng Ninh phải giải bài toán nhân lực KH&CN kể cả đội ngũ quản lý KH&CN cũng như nhân công trong các doanh nghiệp.

Vĩ An

Cùng chuyên mục