Nghị quyết 01 của BCH Đảng bộ tỉnh về xây dựng nông thôn mới đã đề ra rất nhiều mục tiêu; trong đó đến năm 2012 có 100% trường mầm non (MN) đạt chuẩn. Để hoàn thành mục tiêu, cần có sự nỗ lực rất lớn của các cấp, ngành trong tỉnh nhằm vượt qua những “rào cản” hiện nay.
Những chuyển biến rõ rệt 5 năm trước, hầu hết các trường lớp MN trong tỉnh, nhất là ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa phải đi học nhờ ở các nhà văn hoá hoặc học ghép với các trường PTCS. Đây là một nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ thu hút trẻ đến lớp MN rất thấp. Từ năm 2005 trở lại đây, cấp học MN đã được sự quan tâm nhiều hơn, với rất nhiều chương trình đầu tư, chính sách đào tạo, chế độ đãi ngộ của tỉnh nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Trong 2 năm 2009-2010, cấp học MN được bổ sung 1.446 chỉ tiêu biên chế. Đến nay đã chuyển đổi 46 trường MN từ mô hình bán công sang công lập. Hàng năm tỉnh dành nguồn kinh phí lớn để phát triển giáo dục MN vùng khó; kiên cố hoá trường, lớp, xây dựng nhà công vụ cho giáo viên; xây dựng trường chuẩn quốc gia và hỗ trợ lương cho giáo viên hợp đồng trong các cơ sở MN công lập. Trong 3 năm (2007-2009) thực hiện Đề án “Phát triển giáo dục MN giai đoạn 2008-2015, định hướng đến năm 2020”, cấp học MN đã được tỉnh đầu tư trên 40 tỷ đồng để xây dựng các điểm trường MN vùng khó. Đặc biệt năm 2010, tỉnh đã dành hơn 230/495 tỷ đồng kiên cố hoá trường lớp các cấp học để xây dựng 516 phòng học và 101 nhà công vụ cho giáo viên MN… Công tác đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên MN cũng được quan tâm. Hiện 100% giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, trong đó 46,2% trên chuẩn. Các trường đều triển khai có chất lượng chương trình giáo dục MN do Bộ GD-ĐT quy định. Nhiều trẻ được tiếp cận với chương trình học vui trên máy vi tính. Nhiều chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ được áp dụng đạt hiệu quả cao, như: Dinh dưỡng và sức khoẻ cho trẻ; hướng dẫn thực hành chế biến món ăn ở các trường MN; dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc; giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật… Qua đó, góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và nâng cao thể chất, trí, lực cho trẻ; tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đến lớp đạt 99,6%. Từ 2 trường đạt chuẩn năm 2003, đến hết năm 2010 đã tăng lên 27 trường (trong đó có 4 trường đạt chuẩn mức độ 2). Vẫn còn nhiều “rào cản” Hiện trên địa bàn tỉnh có 183 trường MN. Để hoàn thành mục tiêu 100% trường MN đạt chuẩn quốc gia vào năm 2012, thì đến hết năm tới tỉnh cần xây dựng 156 trường đạt chuẩn - một khối lượng công việc rất lớn. Do đặc thù là chăm sóc, nuôi dạy trẻ từ 3 tháng tuổi đến 5 tuổi, nên các quy chuẩn trong xây dựng trường chuẩn quốc gia cấp học MN cũng đòi hỏi chặt chẽ, chi tiết và đầu tư nhiều hơn. Quy chế công nhận trường MN đạt chuẩn quốc gia của Bộ GD-ĐT có 5 tiêu chuẩn, thì tiêu chuẩn về quy mô trường, lớp, cơ sở vật chất thiết bị được xem là khó nhất. Tiêu chuẩn này quy định: Quy mô nhà trường, nhà trẻ có không quá 3 điểm trường; trẻ được tổ chức ăn bán trú; phòng sinh hoạt chung đảm bảo 1,5-1,8m2/trẻ; phòng ngủ từ 1,2-1,5m2/trẻ; phòng vệ sinh 0,4- 0,6m2/trẻ; phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật diện tích tối thiểu 60m2; khu nhà bếp 0,3-0,35m2/trẻ, xây dựng theo quy trình vận hành 1 chiều... Chiếu theo đó, thì các trường ở vùng thuận lợi trong tỉnh thường mắc về diện tích, không gian lớp học, sĩ số/lớp học; biên chế, định biên giáo viên/lớp học. Còn ở vùng khó khăn là kinh phí xây dựng, mặt bằng, số điểm trường/trường, ăn bán trú cho trẻ. TP Móng Cái là địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, tuy nhiên đến nay mới chỉ có 4/17 trường MN đạt chuẩn. Mục tiêu của thành phố trong năm 2011 xây dựng thêm 4 trường và đến năm 2012 hoàn thành 9 trường còn lại. Theo lãnh đạo Phòng GD-ĐT TP Móng Cái, 13 trường hiện chưa đạt chuẩn đều nằm ở các xã biên giới, hải đảo như: Hải Sơn, Hải Tiến, Vĩnh Trung, Vĩnh Thực... Còn huyện miền núi Hoành Bồ, do đặc thù dân cư không tập trung, dân số ít, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến trường ở nhiều thôn bản thấp, nên hiện vẫn còn khá nhiều trường liên 3 cấp (MN, tiểu học, THCS), nhiều lớp học MN ghép từ 2-3 độ tuổi, và chưa có trường MN nào đạt chuẩn. Mặc dù rất quyết tâm, ngành GD-ĐT Hoành Bồ cũng chỉ dám đặt ra mục tiêu đến năm 2012, xây dựng 100% trường MN có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu dạy và học. Theo đồng chí Đoàn Kim Phượng, Trưởng Phòng Giáo dục mầm non, Sở GD-ĐT, vướng nhất của cấp học MN hiện nay là có quá nhiều số điểm trường/trường ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có những trường có tới 15, 16 điểm trường nằm ở các thôn, bản. Những điểm trường đó lại không đủ điều kiện để tách thành trường MN riêng. Vì thế ở những nơi này, dù có được đầu tư cơ sở vật chất theo chuẩn, nhưng không có phương án giảm số điểm trường, thì cũng khó được công nhận đạt chuẩn. Trong quá trình thực hiện Đề án kiên cố hoá trường lớp kết hợp với xây dựng trường chuẩn quốc gia, nhiều địa phương đã không tham vấn thiết kế các trường MN theo quy chuẩn của Bộ GD-ĐT. Vì thế, nhiều trường mới chỉ hoàn thành mục tiêu kiên cố hoá trường lớp mà không đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, vừa gây lãng phí, vừa không đảm bảo tiến độ tỉnh đề ra. Hiện ngành GD-ĐT đã đề xuất UBND tỉnh phê duyệt danh mục 84 trường học các cấp xây dựng đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất năm 2011, trong đó có 38 trường MN. Đồng thời, tỉnh cũng sẽ có cơ chế hỗ trợ 100% đối với các công trình thuộc khối MN, tiểu học, THCS nằm trên địa bàn các xã theo Đề án xây dựng nông thôn mới. UBND tỉnh cũng đã có quyết định hỗ trợ tiền ăn trưa trẻ em 5 tuổi tại các cơ sở giáo dục MN có cha, mẹ thường trú tại các xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu đề ra, ngành GD-ĐT cần nghiên cứu tham mưu, đề xuất để tỉnh tiếp tục có những cơ chế, chính sách hỗ trợ các địa phương trong lộ trình xây dựng và công nhận các trường MN đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn.
Giờ học của cô, trò Trường Mầm non Quảng Đức (Hải Hà).