Bài 3: Bài toán cân đối từ chính sách vĩ mô

Để ngành Than vượt qua cơn khủng hoảng hiện nay và trở thành ngành công nghiệp phát triển, có sức cạnh tranh cao, có trình độ công nghệ tiên tiến so với khu vực ở tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến, sử dụng than, đáp ứng đủ than cho nhu cầu sử dụng trong nước, đặc biệt là than cho sản xuất điện như mục tiêu đã đề ra thì rất cần có chính sách phát triển đồng bộ ở tầm vĩ mô.[links()]

Xuất - nhập khẩu than theo điều tiết của thị trường

TKV là một trong 3 tập đoàn kinh tế mạnh (cùng với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam) có nhiệm vụ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, nhưng đến nay với nhiều lý do, ngành Than đang đứng trước những thách thức to lớn, nếu không có sự tháo gỡ kịp thời thì rất khó vượt qua để tiếp tục giữ vững vị thế của mình.

Bốc xúc than tại Công ty Than Cọc Sáu - TKV. Ảnh: Dương Phượng Đại (CTV)
Bốc xúc than tại Công ty Than Cọc Sáu - TKV. Ảnh: Dương Phượng Đại (CTV)

Theo quy hoạch, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than với khối lượng lớn từ sau năm 2017 và tăng mạnh từ năm 2020, chủ yếu là than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện bao gồm cả than anthraxit và than nhiệt năng. Triển khai nhiệm vụ này, TKV từng bước thực hiện nhập khẩu than. Sản lượng than nhập khẩu của TKV trong thời gian qua mới chiếm tỷ lệ nhỏ so với than sản xuất và chủ yếu là để pha trộn và tạo lập thị trường đáp ứng nhu cầu than cho điện tiếp tục tăng cao từ sau năm 2017. Cụ thể: Năm 2015, TKV nhập khẩu 500.000 tấn than, trong khi than sản xuất trong nước của TKV năm 2015 là 35 triệu tấn. Năm 2016, TKV dự kiến nhập khẩu 1,5 triệu tấn. Thị trường tiêu thụ than của TKV trong 10 tháng năm 2016 bị sụt giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sản xuất than trong nước do hiện nay có nhiều đầu mối than nhập khẩu cộng với than của các đơn vị khác bán ra thị trường với khối lượng khá lớn. Trong khi than nhập khẩu không bị hạn chế thì than xuất khẩu của TKV lại bị khống chế bởi hạn ngạch. Những loại than mà TKV đăng ký xuất khẩu đều là các loại than có giá trị cao mà thị trường trong nước không sử dụng (ví dụ than đăng ký xuất khẩu đi Nhật Bản). Hiện nay, than nhập khẩu không chịu áp lực về các khoản phí, thuế thì hòn than xuất khẩu phải chịu mức thuế từ 10% - 12% (ngoài các khoản phí về tài nguyên, môi trường...) đã làm tăng chi phí của ngành Than lên từ 1.300-1.500 tỷ đồng mỗi năm.

Qua khảo sát, mức thuế đối với ngành Than Việt Nam hiện đang ở mức cao so với thế giới, nhất là so với Trung Quốc và Úc. Thuế tài nguyên than của Úc là 7% đối với than lộ thiên, 5-6% đối với than hầm lò tuỳ theo độ sâu khai thác và không có thuế xuất khẩu than. Thuế tài nguyên của Trung Quốc được áp dụng ở mức 2-10% tuỳ theo khoáng sản và hiện nay do ngành Than đang gặp nhiều khó khăn nên tạm thời được bỏ nhiều loại thuế phí khác. Do vậy, để đảm bảo tính cạnh tranh của hòn than Việt Nam, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu cần được điều chỉnh về mức hợp lý (tương đương với các nước trong khu vực). Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần xem xét cho phép Tập đoàn được chủ động cân đối xuất khẩu các loại than mà trong nước không sử dụng, hoặc khi than tồn kho tăng lên, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh (vừa đảm bảo nguyên tắc tự điều tiết của nền kinh tế thị trường: Khi thiếu thì tăng nhập khẩu nhưng khi thừa thì tăng xuất khẩu).

Phát huy vị thế tập đoàn kinh tế mạnh

Với những khó khăn trước mắt và lâu dài, nếu không có sự trợ lực từ Chính phủ với những chính sách ổn định thì ngành Than khó có thể phát triển bền vững và giữ vững vị thế tập đoàn kinh tế mạnh.

Khai thác than lộ thiên tại khu vực Cẩm Phả.
Khai thác than lộ thiên tại khu vực Cẩm Phả.

Trong chiến lược phát triển, Chính phủ đã giao TKV đẩy mạnh đầu tư khai thác và phát triển các mỏ, nâng cao sản lượng than sản xuất trong nước. Đồng thời, giao cho TKV là đơn vị nhập khẩu than, đảm bảo cung cấp đủ than cho các nhà máy nhiệt điện và các nhu cầu khác của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, do sản xuất, doanh thu, lợi nhuận bị sụt giảm sẽ làm cho TKV không có vốn để đầu tư các dự án mỏ mới, trong khi các dự án mỏ có thời gian đầu tư lâu (để có được 1 mỏ mới cần ít nhất 5-7 năm thực hiện đầu tư, xây dựng). Nếu khó khăn về tiêu thụ vẫn tiếp tục kéo dài, Tập đoàn sẽ không đủ nguồn lực để đầu tư xây dựng các mỏ mới theo quy hoạch đã được phê duyệt, nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn than cung cấp cho nhu cầu trong nước sau năm 2020, ảnh hưởng lớn đến chính sách phát triển năng lượng quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 18 của Bộ Chính trị (về an ninh năng lượng quốc gia). Do đó, để ngành Than phát triển đúng định hướng, đúng mục tiêu, Nhà nước cần có chính sách lâu dài đối với ngành Than, trong đó quản lý than nhập khẩu theo đúng quy hoạch phát triển và cân đối với sản xuất trong nước, để đảm bảo ổn định việc làm, thu nhập và đời sống cho CBCN - LĐ trong ngành Than.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Đặng Thanh Hải, Tổng Giám đốc TKV cho rằng: Để ngành Than vượt qua khó khăn và đảm bảo là một trong 3 trụ cột an ninh năng lượng quốc gia, Nhà nước cũng cần có chính sách để phát triển ổn định than trong nước vì than sản xuất trong nước có đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của đất nước (theo tính toán, cứ 1 triệu tấn than sản xuất trong nước sẽ góp phần tăng được khoảng 0,01 GDP). Có chính sách phù hợp để giúp ngành Than có điều kiện đầu tư, phát triển mỏ theo đúng quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam theo Quyết định 403 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, Nhà nước cũng cần giữ ổn định mức thuế, phí trong thời gian dài để doanh nghiệp có thể cân đối được hiệu quả các dự án. Trước mắt, nếu không giảm được các loại thuế, phí thì đề nghị Nhà nước áp dụng thu thuế đối với than nhập khẩu tương ứng phần chênh lệch giữa tổng mức thuế, phí của Việt Nam với tổng mức thuế, phí của các nước trong khu vực để đảm bảo sự công bằng trong giá bán than trong nước và than nhập khẩu, đồng thời tăng được nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Để vượt qua khó khăn, TKV đã tích cực triển khai các giải pháp nâng cao năng lực sản xuất, tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, hơn lúc nào hết, ngành Than đang rất cần có sự chia sẻ, thấu hiểu của các nhà làm chính sách, đảm bảo lợi ích hài hoà giữa nộp ngân sách, lợi nhuận để ổn định sản xuất, chăm lo đời sống cho trên 80.000 thợ mỏ và góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an sinh xã hội đối với Vùng mỏ Quảng Ninh nói riêng và đất nước nói chung.

Lê Hải

Cùng chuyên mục