Chuyện gia đình bốn đời làm nghề mỏ

Có một câu chuyện vẫn được nhắc đi nhắc lại trong gia đình anh Nguyễn Văn Huy (Công ty Than Mạo Khê - TKV) mỗi khi đại gia đình anh có dịp sum họp. Đó là chuyện về cụ Nguyễn Văn Hỉnh, người đầu tiên làm nên truyền thống nghề mỏ cho đại gia đình, từng gánh con chạy lên núi tránh giặc Pháp...  

Cụ Hỉnh sinh năm 1910, quê Tiên Lữ (Hưng Yên), rời quê đến Vùng mỏ lập nghiệp từ năm 1954. Những ngày đầu làm mỏ đầy cực nhọc, cụ đi lò bằng chiếc đèn đất. Có lần đang làm việc, nghe tin giặc Pháp đi tuần, cụ vội gánh theo hai người con chạy lên núi tránh giặc. Chạy nhanh quá, cả hai đứa trẻ trên quang gánh có lúc bị rơi xuống, nhưng cụ vẫn phải tiếp tục gánh chạy để tránh giặc. Một ký ức ngắn ngủi, nhưng qua bao nhiêu năm vẫn được con cháu nhắc lại. Nó không chỉ kể về đời người thợ mỏ của một thời khốn khó, mà còn gợi lên cả một thế hệ đã đến với vùng than bằng sức vóc, lòng gan góc và ý chí bám trụ. 

Sau những năm làm thợ mỏ, cụ Hỉnh chuyển sang làm công việc vận tải than lên tàu hỏa. Từ đôi vai người thợ, hòn than được đưa lên những chuyến tàu, đi về nhiều miền đất nước. Cũng từ đó, gia đình cụ bắt đầu một hành trình mà không ai khi ấy có thể hình dung sẽ kéo dài qua bốn thế hệ.

Từ ánh đèn đất đến những đường lò hiện đại

Người con tiếp nối nghề của cụ Hỉnh là ông Nguyễn Quang Biên, sinh năm 1939, mất năm 2004. Năm 1960, ông vào làm mỏ tại khu vực Bình Minh - Khe Tối, bắt đầu bằng công việc của một người thợ lò. Nhưng hành trình của ông không chỉ là những năm tháng nhọc nhằn dưới lò sâu, mà còn đầy nhiệt huyết với những hoạt động, phong trào Đoàn thanh niên ở mỏ. 

Từ người thợ lò, ông đảm nhiệm vị trí Bí thư Đoàn Thanh niên Công ty; sau đó, ông được phân công làm trợ lý cho ông Phạm Thế Duyệt (khi đó là Giám đốc mỏ Mạo Khê) rồi chuyển sang công tác công đoàn, giữ vị trí Phó Chủ tịch Công đoàn Công ty. Trước khi nghỉ hưu vào năm 1990, ông là Trưởng ban Thi đua của mỏ Mạo Khê. 

Đến thế hệ thứ ba, ông Nguyễn Văn Hoan, sinh năm 1970, vào mỏ năm 1987. Gần 32 năm gắn bó với nghề, ông nghỉ hưu năm 2019 với bậc thợ lò 6/6, từng là Tổ trưởng tổ gỗ của Phân xưởng Khai thác 5. Nhưng người thợ ấy còn có một ký ức đặc biệt khác để nhớ về những năm tháng sống ở mỏ, đó là niềm đam mê với âm nhạc. 

Nhiều năm, ông Nguyễn Văn Hoan tham gia đội văn nghệ của Công ty; là một tay trống cự phách, từng tham gia các ban nhạc, góp thêm niềm vui cho biết bao đám cưới của các đôi vợ chồng công nhân mỏ Mạo Khê ngày ấy. Ở Than Mạo Khê, những câu chuyện như thế có lẽ không hiếm. Bởi nghề mỏ không chỉ có những ca sản xuất, những đường lò và những tấn than, mà còn tạo nên một cộng đồng, nơi những người thợ cùng chia sẻ với nhau cả trong lao động lẫn cuộc sống.

Gia đình bốn thế hệ thợ mỏ của anh Nguyễn Văn Huy, Công ty Than Mạo Khê - TKV.
Gia đình bốn thế hệ thợ mỏ của anh Nguyễn Văn Huy, Công ty Than Mạo Khê - TKV. 

“Dòng máu thợ mỏ” chảy từ trong ký ức

Thế hệ thứ tư là anh Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1993. Lớn lên giữa những câu chuyện về nghề mỏ, về những năm tháng nhọc nhằn đời thợ, về tình yêu dành cho hòn than và cho vùng đất Mạo Khê, với anh Huy, lựa chọn nghề nghiệp không phải một quyết định một sớm, một chiều. 

“Dòng máu thợ mỏ đã chảy trong huyết quản tôi. Bởi vậy, từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghĩ, đã muốn, sau này lớn lên sẽ trở thành một người thợ mỏ. Con đường học hành, phấn đấu của tôi cũng đi theo mục tiêu đó” - anh Huy trải lòng.  

Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành khai thác của Trường Đại học Mỏ Địa chất, anh trở về quê nhà, gắn bó với Công ty Than Mạo Khê - TKV. Cuối năm 2016, anh bắt đầu làm thợ lò tại Phân xưởng Khai thác 6, sau đó được phân công nhiệm vụ mới tại Phòng Trắc địa - Địa chất. Công việc của một kỹ sư địa chất có lẽ đặc biệt nhất trong dây chuyền sản xuất của một mỏ hầm lò. Bởi, họ là những người "đi trước, mở đường" thu thập những tài liệu quý giá, phục vụ cho công tác mở vỉa, tham gia xây dựng sơ đồ công nghệ khai thác đúng hướng, hiệu quả. 

Kỹ sư Nguyễn Văn Huy (Công ty Than Mạo Khê) trên công trường thăm dò địa chất.
Kỹ sư Nguyễn Văn Huy (Công ty Than Mạo Khê) trên công trường thăm dò địa chất.

Công việc của anh Huy hôm nay cũng khác xa công việc của cụ Hỉnh năm xưa. Nếu cụ Hỉnh ngày trước đi vào ca với chiếc đèn đất, thì hôm nay người chắt của cụ bước vào những đường lò bằng kiến thức được đào tạo bài bản, bằng thiết bị, công nghệ và những phương pháp quản lý hiện đại. Nhưng, có một thứ không thay đổi giữa bốn thế hệ trong gia đình họ, đó là trách nhiệm với nghề, với từng tấn than.

Hiện nay, anh Nguyễn Văn Huy đang tham gia quản lý, chỉ đạo công tác đào lò và khai thác đối với các đơn vị: Khai thác 2, Khai thác 3, Khai thác 11; đảm bảo khai thác đúng lớp vỉa, tính toán chất lượng than; khoanh vùng những nguy cơ mất an toàn, từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa các nguy cơ liên quan đến địa chất, thủy văn. 

"Không chỉ là kỹ sư địa chất giàu kinh nghiệm, anh Huy còn là Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Công ty, Bí thư Chi đoàn Phòng Trắc địa - Địa chất, Chi ủy viên Chi bộ Phòng Trắc địa - Địa chất. Bốn năm liền, anh đạt danh hiệu Đảng viên xuất sắc và đang phấn đấu để năm nay trở thành năm thứ năm liên tiếp đạt danh hiệu Đảng viên xuất sắc cấp TKV" - anh Đỗ Huynh, Trưởng phòng Trắc địa - Địa chất Công ty cho biết thêm.

Anh Nguyễn Văn Huy hiện là một cán bộ Đoàn thanh niên năng nổ của Công ty Than Mạo Khê - TKV.
Anh Nguyễn Văn Huy hiện là một cán bộ Đoàn thanh niên năng nổ của Công ty Than Mạo Khê - TKV.

“Gia phong” được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Nhìn lại hành trình của bốn thế hệ thợ mỏ, có lẽ nhiều người sẽ muốn biết điều gì đã giữ một gia đình đi cùng nghề mỏ suốt hơn bảy thập kỷ? Gia đình anh Huy gọi đó là “gia phong nghề mỏ”; là truyền thống kỷ luật, tinh thần đồng tâm; không sợ khó, không sợ khổ, không ngại hiểm nguy trước mọi nhiệm vụ được giao. 

Những giá trị ấy không được truyền lại bằng những bài học được viết thành sách mà nằm trong những câu chuyện của người đi trước, trong cách những người thợ sống và làm việc, trong những bữa cơm gia đình và cả những lời căn dặn giản dị. 

Ngành than nói chung, Công ty Than Mạo Khê - TKV nói riêng hôm nay đã vươn mình mạnh mẽ với diện mạo, công nghệ và điều kiện sản xuất phát triển hơn trước rất nhiều. Song, cùng với đó là những thách thức ngày càng lớn, các đường lò xuống sâu hơn, đi xa hơn, điều kiện địa chất phức tạp hơn, chi phí để tạo ra mỗi tấn than cũng lớn hơn.

"Tự hào về lịch sử gia đình nhưng tôi cũng hiểu rõ trách nhiệm của mình là phải học hỏi không ngừng để bồi đắp trình độ, tay nghề cho bản thân; làm tròn nhiệm vụ được giao; góp phần tiếp nối truyền thống cha ông, tô đẹp thêm nghề cha truyền - con nối ở vùng đất này" - anh Huy chia sẻ. 

Bốn thế hệ của một gia đình là hơn bảy mươi năm gắn bó với vùng mỏ Mạo Khê. Từ chiếc đèn đất năm xưa của cụ Nguyễn Văn Hỉnh đến công trình hầm lò hiện đại rực sáng dưới lòng đất hôm nay; từ người thợ lò Nguyễn Quang Biên đến người thợ lò bậc 6/6 Nguyễn Văn Hoan đa tài và giờ là người kỹ sư địa chất trẻ Nguyễn Văn Huy - mỗi thế hệ có một công việc khác nhau, nhưng cùng chung một nhiệt huyết gắn bó với Mạo Khê, với nghề khai thác than.

Có thể một ngày nào đó, những người trẻ trong gia đình sẽ không còn nhớ chính xác chiếc đèn đất trông như thế nào. Những đường lò mà cụ Hỉnh từng đi qua cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng câu chuyện về người thợ năm xưa từng gánh con chạy giặc, về người cán bộ công đoàn chăm lo cho đồng nghiệp; về những đám cưới thợ mỏ tưng bừng tiếng trống... sẽ mãi còn lại trong niềm tự hào. Bởi đó là ký ức của một gia đình; nhìn rộng hơn, là một lát cắt quý giá của lịch sử ngành Than và Vùng mỏ Quảng Ninh. 

Cùng chuyên mục