Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Tỵ, (Đại Định) năm thứ 10 (1149). Mùa Xuân, tháng Hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào cảng Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương...”. Đại Định là niên hiệu vua Lý Anh Tông; nên có thể khẳng định thương cảng Vân Đồn đã có từ năm 1149, dưới triều vua Lý Anh Tông. Lúc đầu chỉ có thương thuyền một số nước trong vùng Đông Nam á đến buôn bán. Về sau, có cả thuyền buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ và các nước Trung Cận Đông...
Dưới các triều đại Lý, Trần, Lê, đất nước ta tuy có lúc hưng thịnh khác nhau, nhưng về cơ bản, chính trị ổn định, kinh tế mở mang, văn hoá phát triển. Bên cạnh những sản vật tự nhiên phong phú, trên thương trường xuất hiện ngày càng nhiều các sản phẩm dệt may, gốm sứ, thủ công mỹ nghệ tạo được sức hấp dẫn. Kỷ nguyên Đại Việt ngay từ thời Lý đã trở thành thị trường được các quốc gia lân bang chú ý đặt quan hệ buôn bán. Thương cảng Vân Đồn đã ra đời trong hoàn cảnh đó.
Nhưng dọc theo tuyến bờ biển dài hơn nghìn ki-lô-mét từ Hải Đông đến Nghệ An, tại sao nhà Lý lại chọn Vân Đồn làm thương cảng ngoại dịch mà không chọn một nơi nào khác? Trả lời câu hỏi này cần xem xét ở nhiều khía cạnh. Trước hết, Vân Đồn là vùng có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu, kín gió. Thuyền bè neo đậu ở Vân Đồn an toàn, không bị gió bão uy hiếp. Vân Đồn lại là cửa ngõ vào đồng bằng Bắc Bộ, nơi sầm uất sản vật tự nhiên và thủ công mỹ nghệ, thuận tiện cho việc chuyên chở hàng hoá từ đất liền ra. Về mặt an ninh, Vân Đồn ở cách xa đất liền khoảng 40 km, tàu thuyền ngoại quốc chỉ được phép đỗ ở Vân Đồn, không thể vào đất liền để dò xét tình hình quốc gia Đại Việt. Trên tuyến bờ biển Đại Việt thời đó, ngoài Vân Đồn không có một địa điểm nào ưu việt hơn để làm thương cảng ngoại dịch.
Trung tâm thương cảng Vân Đồn nằm trong quần đảo Vân Hải ngày nay, nơi có phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Quần đảo Vân Hải ở về phía Đông vịnh Hạ Long, cách Bãi Cháy khoảng 60 ki-lô-mét. Đảo lớn nhất trong quần đảo này là Cái Bàn, dài 30 km, nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, giống hình chiếc thuyền rộng khoang, ở giữa phình ra, hai đầu khép dần lại. Chung quanh Cái Bàn là các đảo Quan Lạn - hình củ lạc, Ngọc Vừng - hình con sao biển, Thừa Cống - hình lưỡi kiếm. Vút lên sừng sững giữa đảo Cái Bàn trên quần đảo Vân Hải là ngọn núi Vân cao 445 mét, đỉnh quanh năm phủ mây trắng. Chính địa hình đảo, núi, vụng, vịnh, luồng lạch xen kẽ, nhấp nhô là nơi ra đời và tồn tại hàng trăm năm cảng cổ Vân Đồn sầm uất một thời.
Cảng Vân Đồn không phải là một bến cảng với những cầu tàu nối tiếp trên một vũng biển hay bờ sông theo cách hiểu thời hiện đại mà là gồm nhiều bến thuyền phân bố trên chiều dài hàng chục ki-lô-mét từ Nam lên Bắc. Kể từ đại dương đi vào, bến đầu tiên của cảng Vân Đồn là Cái Làng nằm sát dưới chân núi Man thuộc đảo Quan Lạn. Đối diện với bến Cái Làng là bến Cống Cái nằm dưới chân núi Vân. Rồi bến Con Quy ven đảo Ngọc Vừng, các bến thuyền kẹp giữa hai đảo Cống Đông, Cống Tây v.v. Hình thành nhiều bến thuyền của thương cảng Vân Đồn là nhằm san bớt lưu lượng tàu thuyền vào các bến một cách hợp lý, không tập trung quá đông vào một bến thuyền, đồng thời quy định cụ thể nơi đỗ của tàu thuyền ngoại quốc và tàu thuyền trong nước, tránh đỗ xen kẽ để dễ bề quản lý. Hàng hoá trao đổi ở cảng Vân Đồn thời đó, gồm: Các sản vật tự nhiên phong phú như hương liệu, ngà voi, sừng tê, ngọc trai, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu. Loại hàng hoá này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hàng xuất khẩu hàng năm của quốc gia Đại Việt. Loại hàng hoá thứ hai, đứng sau sản vật tự nhiên, là đồ sứ. Thời Lý, đồ sứ men ngọc với kỹ thuật chế tác khá cao, không kém đồ sứ men xanh “Long Tuyền” của Trung Quốc hồi đó. Đồ sứ thời Lý dáng thanh nhã, hoa văn trang trí khéo léo, đẹp mắt, thường là hoa văn đắp nổi cả trong và ngoài mặt thành đồ vật. Theo một nhà sử học Nhật Bản từng nghiên cứu về Vân Đồn, thì đồ sứ triều Lý được nhiều nước ưa chuộng và đã thấy bán ở tận xứ Đông ấn.
Đến thời Trần, đồ sứ phát triển thêm một bước mới, kiểu dáng khoẻ khoắn, men son nâu thanh thoát, giản dị chẳng những làm cho thương nhân nhiều nước ưa chuộng, mà ngay đến cả vua chúa triều Nguyên (Trung Quốc) cũng ưa dùng, muốn trong số những cống vật của nhà Trần dâng cho “Thiên triều” phải có loại bát sứ. Loại hàng hoá thứ ba là lụa là, gấm vóc. Tuy tỷ trọng xuất khẩu không lớn, những đồ dệt của thợ thủ công kỷ nguyên Đại Việt khá đa dạng, kỹ thuật tinh tế, màu sắc rực rỡ đã làm cho thương nhân ngoại quốc không thể không “để mắt” tới.
Thương cảng Vân Đồn ra đời từ thời Lý, tồn tại và phát triển qua thời Trần, thời Lê đến tận thời Tây Sơn. Quanh năm thuyền bè trong nước, thuyền bè ngoại quốc vào ra buôn bán tấp nập. Vân Đồn trở thành mảnh đất hội ngộ náo nhiệt của khách tương phùng từ bốn phương trời đến...