Đó là hai bài, một đăng báo Quảng Ninh điện tử ngày 9/10/2026: “Thái Miếu nhà Trần, Di sản thế giới” và một đăng báo Quảng Ninh Cuối tuần, ra ngày 11/10/2026: “Vùng đất quê gốc của nhà Trần” đều của tác giả Phạm Học. Tuy có vài đoạn hoàn toàn trùng nhau, có đoạn lại trái ngược nhau, nhưng mỗi bài nội dung mỗi khác, đều xoay quanh quê gốc nhà Trần là ở An Sinh Đông Triều.
Dĩ nhiên bài có một số nội dung tốt, nhưng ở đây, tôi chỉ nói ngắn gọn những điều mà tôi thấy rõ là tác giả đã sai và vài điều khác mà tôi nghi là tác giả đã sai, để bạn đọc nhận ra vấn đề một cách chuẩn xác hơn về một vùng đất lịch sử thời Trần, nhất là khi Quảng Ninh lấy di sản làm biểu tượng, gọi là Thành phố Di sản.
1. Phạm Học viết Đông Triều “quê gốc của nhà Trần” (cả hai bài) là sai. Cái sai này, tác giả viết lại và phát triển thêm từ cái sai của vài người trước: “Cụ Trần Kinh ở An Sinh đi xa đánh bắt cá, thấy vùng ven biển ở lộ Thiên Trường...”. “Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT), bản ban đầu từ thời Trần, tiếp tục phát triển và hoàn thành ở thời Lê (Lê Thánh Tông năm 1479). Tại tập II, Quyển V, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 5, nguyên văn ghi như sau: “Vua họ Trần húy Cảnh… Đời trước của vua là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm) có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường…”.
Như vậy là từ đất Mân (Trung Quốc), Trần Kinh đến Tức Mặc, chứ không qua Đông Triều ở đấy đến 3 đời (?) và đặc biệt, Trần Kinh là đời thứ nhất, là thủy tổ họ Trần - không phải là đời thứ tư - tức là đã có ba đời trước ở Đông Triều - rồi từ Đông Triều mới đến Tức Mặc.
Tôi đã được mời dự một hội thảo hẹp khoảng 30 người ở Uông Bí, do Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, GS Phan Huy Lê và Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Hà Văn Hiền chủ trì, trong các đại biểu dự có GS Trần Quốc Vượng. GS Phan Huy Lê kết luận: “Đông Triều không phải là quê gốc của nhà Trần”.
Sau đó, tôi xem và nghe trực tiếp GS Phan Huy Lê nói trên VTV1, chương trình thời sự, và màn hình hiện lên dòng chữ: “Đông Triều không phải là quê gốc của nhà Trần”.
Bây giờ, muốn tìm những tư liệu đã phát này chắc cũng không khó gì. Như vậy, Đông Triều là quê thứ ba nhà Trần, sau Nam Định và Thái Bình, chỉ không phải là quê gốc mà thôi. (Gần đây, có người tìm thấy gia phả cổ, theo đó, tổ tiên vua người nước Mân, nay là Phúc Kiến, Trung Quốc, đến định cư ở Kinh Bắc - Bắc Ninh hiện nay nhiều năm, sau mới chuyển về Tức Mặc). Trong Thái Miếu của nhà Trần ở Thái Bình, thờ thủy tổ vẫn là Trần Kinh, đời thứ nhất ở Tức Mặc.
2. Trong bài “Vùng đất quê gốc của nhà Trần”, Phạm Học viết:“Hầu hết lăng mộ các vua Trần đều được xây dựng và di chuyển về Đông Triều” là sai.
Trần Nghệ Tông chỉ di chuyển 4 lăng mộ vua Trần từ Thái Bình về Đông Triều, là Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông mà thôi. Còn 7 lăng mộ của 4 vị thủy tổ vẫn ở Thái Bình gồm: Thủy tổ Trần Kinh, Thái tổ Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý, Thái thượng Trần Thừa (đến đời Dụ Tông thì đổi miếu hiệu: Mục tổ Trần Kinh, Ninh tổ Trần Hấp, Trần Lí vẫn là Nguyên tổ, Trần Thừa là Thái tổ.
Miếu hiệu Thủy tổ để trống, tôi đoán là để tưởng nhớ thân phụ Trần Kinh ở Trung Quốc và 3 vua gồm: Thái tông Trần Cảnh; Thánh Tông Trần Hoảng và Nhân Tông Trần Khâm. Các lăng mộ này vẫn ở Thái Bình chứ không chuyển về Đông Triều. Khi Nghệ Tông cho xây Thái Miếu ở Đông Triều thì cho xây luôn lăng Thái Tông và Thánh Tông có tính tượng trưng, để thờ cúng cùng Thái Miếu cho tiện. Vậy thì không thể nói là đã hầu hết.
3. Phạm Học giải thích, việc chuyển lăng mộ các vua Trần (thực ra chỉ có 4 lăng mộ) từ Thái Bình về An Sinh, Đông Triều, vì đây là quê gốc tổ tiên nhà Trần và là cát địa (đất tốt). Tôi không biết “cát địa” có đúng không nhưng dù có là “cát địa” thật, cũng không thể cứu vãn nổi nhà Trần, từ đời Dụ Tông đến đời Nghệ Tông, cái thế nước sụp đổ là không thể tránh khỏi.
Thực ra, lí do chính để chuyển lăng mộ 4 vị hoàng đế này về Đông Triều là vì Nghệ Tông sợ quân Chiêm Thành vào cướp rồi đập phá, như đã từng xảy ra. Vậy chuyển về đâu?.
An Sinh là tốt nhất, vì đây là vùng đất xung quanh có núi bao bọc, rất xa biển, quân Chiêm Thành không thể mò tới được, lại là nơi vua Nhân Tông đã đi tu rồi viên tịch, một phần xá lợi của ngài đã chôn cất ở đây, cùng với Nam Định và Thái Bình. Chỉ có vậy thôi.
Còn tổ tiên họ Trần ở đây ư? Xin hãy nghe chính vua Trần Nhân Tông nói: “Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu (thủy tổ quê ở Hiển Khánh), đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích hình rồng vào đùi; nếp nhà theo nghề võ, nên thích rồng vào đùi, để tỏ là không quên gốc” (chú thích ghi rõ: Hạ lưu, miền dưới, miền biển. Xin đọc ĐVSKTT, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, 1971, trang 86; Nhà Xuất bản Thời đại, 2013, tr. 329). Như vậy, theo lời của chính vua Trần Nhân Tông, Quốc sử cũng đã ghi rõ như trên là, tổ tiên vua không ở miền cao, không ở miền núi (như An Sinh, Trại Lốc, Đông Triều hiện nay) mà “ở hạ lưu, ở miền dưới, miền biển”.
4 - Có một căn cứ duy nhất tác giả Phạm Học đưa ra để chứng minh: Quê gốc nhà Trần ở miền cao, miền núi, trái ngược hoàn toàn với lời vua Trần Nhân Tông nói lúc vua còn sống, đã ghi trong quốc sử, từ thời Trần đến thời Lê (1497) là An Sinh Đông Triều, tác giả lấy căn cứ từ Đại Nam nhất thống chí, hoàn toàn không có cơ sở khoa học lịch sử.
Không hiểu sao, câu Phạm Học dẫn ra từ Đại Nam nhất thống chí, trong cả hai bài, thì ý quan trọng nhất là ở 7 chữ đầu câu, tác giả đều đã tự ý cắt bỏ: “Xét sử chép kỉ Trần Anh Tông”. Nguyên văn chữ Phạm Học (ở cả hai bài): “Đại Nam nhất thống chí, chép: “Bia thần đạo ở An Sinh nói rằng, tổ tiên nhà Trần vốn là người An Sinh, huyện Đông Triều. Sau dời đến hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, cho nên các vua Trần đều táng ở Yên Sinh, mà khi người nhường ngôi xuất gia, cũng lấy Yên Sinh làm nơi tu ẩn”.
Thực ra nguyên văn Đại Nam nhất thống chí, ghi có cả 7 chữ đầu câu: “Xét sử chép kỉ Trần Anh Tông, bia thần đạo...”. Tôi đã đọc rất kĩ “Kỉ Trần Anh Tông”, ở cả 2 bộ sách như nhau, bộ in sớm là ĐVSKTT (tập II, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, năm 1971, từ trang 78 đến trang 114), và bộ in muộn là ĐVSKTT (Nhà Xuất bản Thời Đại, năm 2013, từ trang 323 đến 349), tuyệt không có bất cứ một chữ nào viết về điều Phạm Học đã nêu ra. Lỗi không phải tại Đại Nam nhất thống chí, vì đây không phải sách lịch sử mà là sách thống kê tư liệu địa lí, đủ các hạng mục của triều Nguyễn viết riêng từng tỉnh. Tham khảo thì được, nhưng lấy đó làm căn cứ lịch sử thì không được. Vì nó không phải sách lịch sử.
Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn, hoàn thành năm 1822, sau ĐVSKTT đến 343 năm (1479). Độ lùi rất xa, thì nếu có “tam sao thất bản” cũng là điều bình thường và việc “nói đi nói lại” trong học thuật cũng là điều bình thường.
Đại Nam nhất thống chí còn ghi: Các vua Trần đều táng ở An Sinh: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Giản Định đế... Theo tôi là sai. Như trên đã nói, khi Nghệ Tông cho xây Thái Miếu (biến An Sinh thành quê nhà Trần) thì ông cho xây luôn lăng Thái Tông và Thánh Tông như một biểu tượng mà thôi. Lăng hai vua này, hiện vẫn ở Thái Bình. Còn Giản Định đế, thời Hậu Trần chống đô hộ của giặc Minh, bị Trương Phụ, tướng giặc Minh bắt, cùng với Thái bảo Trần Hi Cát, đưa về giết ở Kim Lăng năm 1409, không biết cả hai chôn xác ở đâu bên Trung Quốc (ĐVSTTT, Nhà Xuất bản Thời Đại, năm 2013, trang 462). Lúc đó, Nghệ Tông chết đã 14 năm, nhà Trần mất đã 9 năm, nhà Hồ sụp đổ đã 2 năm, làm gì có chuyện táng Giản Định đế ở Yên Sinh như Đại Nam nhất thống chí đã viết?.
Như trên đã nói, lăng mộ các vua Trần di chuyển về Đông Triều chỉ có của: Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông. Táng ở Đông Triều chỉ có: Nghệ Tông và hai con cháu của Nghệ Tông. Đại Nam nhất thống chí ghi, các vua Trần mất đều táng ở An Sinh là sai. Phạm Học đã chép lại cái sai đó.
Lại nói, Trần Liễu xây tông miếu cho tổ tiên ở An Sinh như Phạm Học nêu là không có cơ sở. Năm 1237, Trần Liễu nổi loạn nhằm đoạt ngôi vua của em ruột là Trần Cảnh. Thái sư Trần Thủ Độ rút gươm chém, nhưng Trần Cảnh che cho mà thoát chết. Trần Cảnh cho đưa cả gia đình Trần Liễu ra xa kinh thành, về An Sinh để đề phòng bất trắc. Dù tên đất ở và tên tước vương là An Sinh, với ý nhắc nhở là hãy sống cho yên ổn, Trần Liễu vẫn kiên quyết phục thù, tìm người giỏi võ nhất dạy cho Quốc Tuấn. Đến năm 1251, Trần Liễu mất. Trước khi chết, ông dặn Quốc Tuấn: “Con hãy vì cha mà lấy cả thiên hạ”. Quốc Tuấn không lấy thế làm phải. Quốc sử đã ghi rõ thế. Làm gì có chuyện Trần Liễu xây tôn miếu, cổ vũ cho sự nghiệp làm vua của em trai.
Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” (1821) của Phan Huy Chú, ghi rõ: “An Sinh ở huyện Giáp Sơn, châu Đông Triều, nơi Trần Liễu sinh sống và chết thì táng ở đó, mộ hiện vẫn còn, chữ mờ nhưng vẫn đọc được”. Như vậy, Trần Liễu ở huyện Kinh Môn, châu Đông Triều, chứ không phải ở huyện Đông Triều như nhiều người đã nhầm.