Giới làm sân khấu cả nước nhắc nhiều đến Hoàng Hạc với lòng kính trọng bởi uy tín, tài năng bậc thầy, sự am hiểu sâu rộng về các loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là tuồng cổ và cải lương. Thời còn tài danh nức tiếng, ông đã đến rồi ở lại mãi với Quảng Ninh...
NSƯT Hoàng Hạc.
Tuồng cổ đặc biệt rất kén người, diễn viên phải vừa biết hát, vừa phải diễn, vừa biết vũ đạo. Ông không chỉ luyện giỏi ca vũ mà còn học cho thật tường tận ngữ nghĩa chữ Hán, để hiểu tới cùng lời kịch bản các vở tuồng cổ vốn chứa toàn Hán ngữ. Rèn nghề khó khăn vậy nên cũng là một cái thuận khi ông đi vào các bộ môn nghệ thuật khác. Mặc dù vậy, nhưng sau này làm cho nhiều tài chủ (chủ các rạp hát), ông vẫn học thêm nghề. Ông bảo, để thầy dạy nghề cho rất khốn khổ, phải tìm cách lấy lòng, giặt quần áo và làm nhiều việc khác cho họ. Làm cho tài chủ mà không có tài thì bị coi rẻ lắm nên ông phải tự mình, tự tu nhiều. Ông ham đọc, chịu đọc lắm. Khổ học cộng với tài năng bẩm sinh nên khi thành danh, Hoàng Hạc đến đoàn nào cũng cầm được chiếc gậy chỉ huy, được nhiều người kính trọng.
Tài danh nức tiếng, ông hay một mình một va ly ngao du khắp nơi (trong nghề gọi là đi màn xế). Thế rồi, duyên đến, tình cờ, 1958 ông ra Quảng Ninh chơi, diễn ở đoàn Cải lương Lúa vàng (tiền thân đoàn Cải lương Quảng Ninh hôm nay). ấn tượng Vùng mỏ sâu đậm trong ông ở sơn thuỷ hữu tình, thú chơi tiêu dao bình dị mà rất phóng khoáng. Hai tháng ở với đoàn ông về nhà 2 lần nhưng lần thứ 2 về không phải 1 tuần như hẹn mà quá thành 20 ngày. Vậy mà đoàn vẫn trọng ông như nhất, trả lương tháng đầy đủ cho ông. Cái tình ấy làm ông cảm kích lắm. Lần thứ ba ông về cũng đồng thời đưa cả gia đình ra Quảng Ninh sinh sống cho đến nay. Mấy chục năm cống hiến, vật đổi sao dời, gia đình ông vẫn sống bần hàn trong gian nhà tập thể tại cột 3 (phường Hồng Hải, TP Hạ Long).
Tài danh một thuở nhưng nhớ lại thì cái đận gian lao cuộc đời ông kể cũng lắm, đâu phải chỉ bây giờ. Đầu tiên là vì miếng cơm, manh áo. Những ngày đói năm xưa, ông từng vác dậm ra đồng giúp gia đình có được 2 bữa cháo húp qua ngày, rồi trải qua cái đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Sức vóc một thầy tuồng nòi như ông mà cũng phải đi đập lúa thuê toét tay vẫn chẳng đủ ăn, nhảy tàu để bán hàng rồi buôn bán không thiếu thứ gì, từ xay xáo đến cọng hành, mớ rau cũng buôn đầu chợ, bán cuối chợ... Gian lao ngục tù cũng không ít. Ông từng hoạt động cách mạng, chẳng may bị bắt, vào ra đến nhẵn đường Nha Cảnh sát Công an Bắc Việt. Dưới vỏ bọc một anh kép hát, ông qua được những lần tra khảo, lục vấn gắt gao ấy. Khốn khó nhiều đận, cuối cùng ông vẫn trụ lại với nghề. Những gian lao một thời sau trở thành vốn sống quý giá để nghệ thuật của ông ngày một hoàn thiện hơn.
Sông có khúc, người có lúc, ông cũng có đoạn rất sung sướng, không phải lo gì chuyện cơm áo. Đó là khi tài danh nổi đình, nổi đám, người yêu mến, hâm mộ nhiều, không cần ông biết tới ai là ai vẫn cứ sẵn sàng chu cấp cho ông sống thoải mái. Ăn tiêu không hết, ông đem giúp những người khác cùng đoàn. Lương tài chủ trả cho ông người khác lĩnh hộ tới nửa năm rồi tiêu mất ông chẳng hay, khi biết cũng lại bỏ qua. Một phần cũng do cái tính ông nó thế. Thời ở đoàn Cải lương Quảng Ninh, 11 năm công đạo diễn, biên đạo của ông dễ đến mấy lượng vàng, người ta quên, đến khi nhớ ra, họ xin lỗi một câu, nói vài lời ông cũng thôi ngay chẳng tính nữa. Không bị ràng buộc bởi tiền bạc, ông cũng không màng danh lợi. Danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú, ông được phong tặng năm 1995 là do bạn bè ủng hộ, kiến nghị cho ông. Quyết định đưa về, ai cũng ngạc nhiên bởi khi làm hồ sơ, ông kiên quyết nhường cho người khác. Ông bảo, danh ấy để cho lớp trẻ, họ còn có cơ hội cống hiến hơn. Ông có lẽ cũng là trường hợp hy hữu được phong tặng danh hiệu này mà chỉ có một Huy chương Bạc duy nhất (đạo diễn vở Quê than rực lửa tham gia Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn miền Bắc).
Lại nói, sau khi về đoàn Lúa Vàng, rồi đi học lớp đạo diễn, ông miệt mài làm việc, đã góp phần đưa Đoàn vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Có lần đoàn đã lên tận Thủ đô, biểu diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Một đoàn nghệ thuật tỉnh lẻ làm được việc ấy giai đoạn đó là rất đáng nể. Ông cũng từng đưa Đoàn sang biểu diễn tại Trung Quốc với 3 vở lớn Nổi gió, Võ Thị Sáu và Tiếng sấm Tây Nguyên. Suốt những năm gắn bó với Đoàn Cải lương Quảng Ninh, ông đã đạo diễn rồi kiêm diễn viên chính, viết kịch bản trên dưới 70 vở thuộc nhiều thể loại như Lệ Chi Viên, Hồng Cơ - Minh Ngọc, Bà mẹ bên sông Hồng, Thái hậu Dương Vân Nga, Không lực - bất lực, Lam Sơn khởi nghĩa v.v... Cũng giai đoạn này, ông nói, ông bị một cái đau, đó là bị kỷ luật khai trừ khỏi Đoàn. Đời ông bị 3 lần như thế nhưng cả 3 lần ông đều được xin lỗi, sửa sai và mời trở lại. Nhiều người sợ ông quay lại trù úm họ nhưng ông bảo, ông yêu nghề thì sẽ yêu con người làm nghề nên phải trân trọng, hoà đồng với họ. Nhiều người ghi nhận ông đã nói và làm đúng như thế.
Cuộc đời nghệ sỹ của Hoàng Hạc là một kho chuyện dường như kể mãi không hết nhưng gói lại thì cũng rất đơn giản. Ông nhận rằng mình sống phóng khoáng, tự do nhưng không bạt mạng, không vô tổ chức; còn riêng với nghệ thuật thì rất mê. Ông mê nghề đến quên cả thời gian, đôi khi chả biết nhà, biết cửa ở đâu nữa. Bởi vậy mà ông rất quý trọng người vợ của mình, vì nhờ bà tháo vát, đảm đang lo việc nhà nên ông mới làm nên sự nghiệp. Đến giờ ông vẫn vậy, rất coi trọng người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội...