Biến đổi khí hậu đã trở thành một vấn đề vừa cấp thiết, vừa phổ biến đối với các quốc gia. Ngoài những tác động bất lợi do biến đổi khí hậu về sức khoẻ, sản xuất nông nghiệp, sinh thái, môi trường thì hiện nay điều thấy rõ nhất, đó là thiên tai trở nên khốc liệt hơn, khó dự báo hơn, không theo quy luật. Quảng Ninh lại là tỉnh nhạy cảm với các yếu tố biến đổi khí hậu, vì vậy việc xác định rõ các nguy cơ và coi vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu phải là nhiệm vụ cấp bách và mang tính chiến lược để phát triển ổn định, bền vững.
Có thể nhận thấy, cũng như nhiều địa phương khác trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Quảng Ninh còn có điều kiện khác biệt nằm giáp khu vực Vịnh Bắc Bộ, nên trực tiếp hứng chịu nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới và gió lốc. Bên cạnh đó, địa hình đồi núi là điều kiện để nước lũ các sông suối đột ngột tăng cao khi có mưa lớn, gây sạt lở đất. Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Khí tượng thuỷ văn, trong vòng một thập kỷ qua nhiệt độ trung bình của tỉnh đã tăng khoảng 0,1 độ, đặc biệt nhiệt độ trung bình mùa hè tăng khoảng 0,1 đến 0,3 độ. Đáng bàn là nắng nóng có xu thế xuất hiện sớm và kết thúc muộn, số đợt nắng nóng nhiều hơn, xảy ra cục bộ và diễn biến phức tạp. Ngoài ra, không khí lạnh có biểu hiện thất thường, mùa lạnh đến muộn, xuất hiện rét đậm, rét hại kéo dài mang tính lịch sử. Cùng với đó, lượng mưa trung bình năm bình quân những năm gần đây đạt khoảng 1.600mm đến 2.700mm; diễn biến mưa cũng phức tạp hơn, xuất hiện nhiều trận mưa bất thường kèm theo mưa đá. Những tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng phần nào đến kinh tế - xã hội của tỉnh trên mọi phương diện. Cụ thể, biến đổi khí hậu làm bão đổ bộ vào Quảng Ninh tăng lên, trong năm 2010 và 2011 trên địa bàn tỉnh hứng chịu 3 cơn bão.
Các cơn bão đổ vào Quảng Ninh thường kèm theo mưa lớn, có cơn bão lượng mưa từ 100-200mm, có nơi 500mm. Và đây cũng là nguyên nhân chính gây mưa lớn và tạo ra lũ gây xói mòn, sạt lở đất, gây ngập lụt, đổ nhà... ảnh hưởng đến ngành nuôi trồng thuỷ sản, du lịch trên địa bàn tỉnh những năm qua. Điển hình nhất là trận lũ lụt lịch sử xảy ra vào tháng 9-2008 khiến ba huyện Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ bị ngập chìm trong nước, gây thiệt hại và ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân. Trận gió lốc năm 2006 đã làm gẫy đổ 4 cần cẩu hạng nặng ở cảng Cái Lân. Không chỉ vậy, diễn biến bất thường của bão lũ có xu hướng gia tăng về số lượng và tần suất gây ảnh hưởng đến hoạt động du lịch - dịch vụ của tỉnh, làm trễ lịch trình nhất là đối với các tàu du lịch, gây tai nạn trong các tuor du lịch, ảnh hưởng đến tâm lý của du khách. Cũng trong năm 2006, trận lốc xoáy và mưa đá lớn làm 32 tàu, thuyền du lịch bị chìm. Đặc biệt, năm 2010 bão đổ bộ vào Quảng Ninh gây đắm tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long làm thiệt mạng du khách. Những tác động của biến đổi khí hậu cũng làm thay đổi chu trình thuỷ văn, thay đổi hệ sinh thái cửa sông. Đồng thời, gây ra sự biến đổi về nồng độ muối, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước (đặc biệt là khi thiếu nước do hạn hán) làm ức chế quá trình sinh trưởng của sinh vật.
Nhận thức được vấn đề trên, từ năm 2008, sau khi Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn 2020. Cùng với đó, tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh ứng phó với biến đổi khí hậu, Văn phòng Thường trực ban chỉ đạo. Tỉnh cũng đã chỉ đạo các ngành và địa phương tích cực tuyên truyền và lồng ghép các hoạt động của ngành và địa phương vào chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Qua đó, đã bước đầu nâng dần nhận thức của người dân về hậu quả của biến đổi khí hậu và có biện pháp ứng phó kịp thời.
Để chủ động đối phó có hiệu quả, chống lại biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, hướng đến mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ - công nghiệp, đô thị thân thiện, tỉnh đang triển khai tích cực nhiều hoạt động nhằm giảm thiểu, ứng phó và thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu như: bảo vệ cảnh quan thiên nhiên dọc bờ sông, trồng thêm các loại cây ở vùng ven biển, rừng sú vẹt, rừng phòng hộ; bảo vệ môi trường, cắt giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường… Đồng thời, triển khai các chương trình nhằm tăng cường bảo vệ và nâng cấp các tuyến đê biển quốc gia. Bên cạnh đó, rất cần sự quan tâm và trợ giúp của quốc tế trong việc nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ nhằm áp dụng cách tiếp cận thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm khả năng dễ bị tổn thương và nâng cao khả năng phục hồi trước những rủi ro, tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra.
Trang Thu