Bước vào giai đoạn 2026-2030, tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế, mở rộng phạm vi hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) trên địa bàn, hướng hoạt động khuyến công tới sản xuất hiện đại, xanh và bền vững.
Giai đoạn 2021-2025, chương trình khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã triển khai 83 đề án, nhiệm vụ, với tổng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước trên 20,4 tỷ đồng và huy động trên 27,7 tỷ đồng vốn đối ứng từ các cơ sở công nghiệp nông thôn. Trong đó, khuyến công địa phương thực hiện 72 đề án, nhiệm vụ, hỗ trợ trên 10,9 tỷ đồng; khuyến công quốc gia thực hiện 11 đề án, hỗ trợ 9,5 tỷ đồng.
Điểm nổi bật trong hoạt động khuyến công những năm qua là tập trung hỗ trợ các cơ sở CNNT ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cụ thể, trong giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh đã hỗ trợ 67 cơ sở CNNT ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, với tổng kinh phí 14,9 tỷ đồng. Trong đó, khuyến công quốc gia thực hiện 9 đề án, hỗ trợ 24 cơ sở với kinh phí 7.100 triệu đồng; khuyến công địa phương thực hiện 43 đề án, hỗ trợ 43 cơ sở với kinh phí 7,8 tỷ đồng. Các cơ sở được hỗ trợ tập trung ở những lĩnh vực như: cơ khí, chế biến thực phẩm, chế biến lâm sản, may mặc...
Ghi nhận tại Công ty TNHH 1 thành viên Nước khoáng Công đoàn Quang Hanh cho thấy chuyển biến tích cực từ hỗ trợ của chính sách khuyến công. Năm 2025, doanh nghiệp được hỗ trợ 300 triệu đồng từ chương trình khuyến công quốc gia để đầu tư nồi hơi đốt than công suất 1.500kg hơi/giờ và máy vặn nắp chai PET 8.000 chai/giờ. Doanh thu của công ty từ 159,878 tỷ đồng năm 2024 tăng lên 196,917 tỷ đồng năm 2025.
Đại diện Công ty TNHH 1 thành viên Nước khoáng Công đoàn Quang Hanh cho biết: Thời gian tới doanh nghiệp dự kiến mở rộng nhà xưởng, bổ sung dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn 5S. Đồng thời, đầu tư dây chuyền đóng chai thủy tinh nhằm đón đầu xu hướng giảm rác thải nhựa. Doanh nghiệp cũng tiếp tục mở rộng thị trường, tăng cường quảng bá công nghệ sản xuất khép kín và sản phẩm qua hội chợ, các kênh truyền thông, mạng xã hội. Việc được tiếp cận các chính sách hỗ trợ khuyến công sẽ giúp doanh nghiệp đầu tư máy móc, dây chuyền tự động hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường.
Từ thực tiễn triển khai, tỉnh Quảng Ninh đang tiếp tục đổi mới cách thức thực hiện chính sách khuyến công theo hướng thiết thực, đúng đối tượng và tạo hiệu quả lan tỏa. Đáng chú ý, bước vào giai đoạn 2026-2030, tỉnh đã ban hành thêm những cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác khuyến công. Trong đó, Nghị quyết số 07/2026/NQ-HĐND ngày 28/4/2026 quy định mức chi cho các hoạt động khuyến công địa phương giai đoạn 2026-2030; Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND ngày 15/6/2026 quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công địa phương trên địa bàn tỉnh. Các quy định mới góp phần làm rõ đối tượng, điều kiện, trình tự, trách nhiệm và cơ chế hỗ trợ, đồng thời nâng cao tính công khai, thống nhất trong quản lý, sử dụng nguồn lực.
Chính sách mới cũng mở rộng cách tiếp cận, không chỉ tập trung vào hỗ trợ máy móc mà bao quát tương đối toàn diện quá trình phát triển của cơ sở CNNT, từ khởi sự doanh nghiệp, trình diễn kỹ thuật, đổi mới công nghệ, sản xuất sạch hơn đến xây dựng nhãn hiệu, xúc tiến thương mại, liên kết doanh nghiệp và đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp. Đối tượng thụ hưởng gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh trực tiếp sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại các xã, phường, đặc khu và các làng nghề được công nhận; cùng một số nhóm đối tượng khác theo quy định.
Mức hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được quy định bằng 50% chi phí, tối đa 300 triệu đồng cho một cơ sở; trường hợp hỗ trợ dây chuyền công nghệ có thể được hỗ trợ tối đa 450 triệu đồng. Các mô hình sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững được hỗ trợ tối đa 500 triệu đồng/mô hình. Chính sách cũng dành nguồn lực cho xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu, hình thành cụm liên kết doanh nghiệp, xử lý ô nhiễm và đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp.
Với hệ thống chính sách mới được hoàn thiện, cùng cách tiếp cận ngày càng sát thực tiễn, công tác khuyến công được kỳ vọng tiếp tục trở thành “bệ đỡ” để các cơ sở CNNT mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.