Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh, Sở Công thương, trong 5 năm qua (2005-2009) tổng kinh phí dành cho hoạt động khuyến công là 5.319,5 triệu đồng, hỗ trợ 145 đề án.
Trong đó nguồn kinh phí địa phương hỗ trợ 4.692 triệu đồng cho 137 đề án, bình quân 34 triệu đồng/1 đề án. Nguồn kinh phí quốc gia hỗ trợ là 627.5 triệu đồng, bình quân 78.4 triệu đồng/1đề án. Từ nguồn kinh phí này khuyến công đã giúp 816 lao động nông thôn được đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề. 80 học viên được đào tạo qua các lớp khởi sự doanh nghiệp và 216 học viên được đào tạo nâng cao năng lực quản lý. Cũng từ nguồn kinh phí khuyến công đã xây dựng được 4 mô hình trình diễn kỹ thuật; hỗ trợ 80 cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ triển lãm, triển khai hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin... Sản xuất ngọc trai tại Doanh nghiệp chế tác Kim cương (Uông Bí).
Tuy nhiên, xét trên nhiều khía cạnh, công tác khuyến công trên địa bàn tỉnh trong 5 năm qua vẫn còn quá nhiều hạn chế. Một trong những hạn chế lớn nhất là kinh phí hỗ trợ công tác khuyến công quá ít, chưa thể đáp ứng nhu cầu thực tế. Điều đó dẫn đến chất lượng hoạt động khuyến công chưa cao. Số đề án khuyến công sau khi giao kế hoạch phải điều chỉnh chiếm tới hơn 30%. Năm 2006, kinh phí khuyến công quốc gia và địa phương chỉ bằng 12,6% so với nhu cầu thực tế. Năm 2009, nguồn kinh phí đã tăng lên nhưng cũng chỉ đáp ứng 23,2% nhu cầu. Bên cạnh đó, cơ chế chính sách quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công còn nhiều bất cập nên hoạt động đào tạo nghề, nhất là ở vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn. Việc hỗ trợ đầu tư xây dựng các mô hình trình diễn, ứng dụng công nghệ mới cũng bị hạn chế do nguồn hỗ trợ tối đa không quá 150 triệu đồng/mô hình.
Một trong yếu tố quan trọng khác đó là việc bỏ qua nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến nông - lâm sản, thủ công mỹ nghệ. Đơn cử như huyện Yên Hưng được ưu tiên phát triển nghề mây tre giang đan. Hàng trăm triệu đồng đã được đổ vào tổ chức đào tạo nghề cho bà con mua máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tư vấn thiết kế và thành lập doanh nghiệp, thế nhưng nguyên liệu phần lớn phải mua từ nhiều địa phương khác, sản phẩm làm ra có giá thành cao, mẫu mã kém hấp dẫn nên nhiều doanh nghiệp thực hiện bao tiêu sản phẩm đã nản vì doanh thu thấp.
Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khó khăn về mặt bằng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Do thời gian đào tạo ngắn nên tay nghề người lao động chưa cao, không đáp ứng yêu cầu hàng xuất khẩu và thu nhập thấp khiến nhiều nghề không được duy trì. Tình trạng người dân mất nhiều thời gian, công sức để theo học nhưng rốt cuộc không được làm nghề khá phổ biến. Thêm vào đó, do năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm lựa chọn dự án, chuẩn bị hồ sơ, lập kế hoạch, dự toán hay nghiệm thu thanh quyết toán, vậy nên hoạt động khuyến công hiện nay phần nhiều mới chú trọng đến hình thức và việc giải ngân đúng tiến độ, còn chất lượng và tính khả thi của dự án chưa được kiểm tra, đánh giá một cách sát sao.
Không thể phủ nhận những đóng góp của hoạt động khuyến công trong những năm qua. Tuy nhiên, trên bình diện tổng thể đó mới chỉ là những bước đi khởi sự, chưa khẳng định được vai trò công tác khuyến công trong phát triển công nghiệp của tỉnh. Thực tế, nhận thức của bà con, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, biên giới về khuyến công còn rất mơ hồ. Do đó hoạt động khuyến công rất cần có một cú hích để tạo những chuyển biến mạnh về chất trong những năm tới.