Ở Công ty cổ phần Than Đèo Nai - TKV người ta gọi công trường máy xúc là công trường chủ lực. Công trường được giao quản lý toàn bộ số máy xúc hiện có của Công ty, mặc dù làm việc từ trên đồi cao +365 xuống đến hào -60, nhưng công trường liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với sản lượng bóc xúc đất đá, khai thác than, năm sau cao hơn năm trước.
Năm 2008 công trường đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao Động hạng Nhì. Năm 2009 công trường đã bóc xúc và vận chuyển 22 triệu mét khối đất đá, trong đó có hơn 1 triệu m3 xúc trung chuyển từ bãi chứa than loại 2 cấp liệu cho hệ thống sàng pha trộn than thành phẩm.
Có được kết quả đó, công trường đã thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý thiết bị máy xúc để đẩy mạnh sản xuất. Sau nhiều năm mỏ Đèo Nai (nay là Công ty cổ phần Than Đèo Nai) sắp xếp lại tổ chức từ 2 công trường xúc 1, xúc 2 sáp nhập làm một với tổng số 27 máy xúc các loại. Lúc đầu nhiều người cho rằng công trường lớn, thiết bị nhiều loại khó quản lý bởi lẽ máy xúc EKG đã qua 35-40 năm sử dụng, xuống cấp phải phục hồi, ngoài ra công trường còn phải quản lý 12 máy xúc thủy lực, chạy dầu. Thợ vận hành đều từ máy xúc điện EKG chuyển sang quản lý vận hành máy xúc PC; WA320... sẽ gặp rất nhiều khó khăn. “Cái khó ló cái khôn” lãnh đạo Công ty đã mở một lớp đào tạo thợ vận hành máy xúc PC750 và PC1250 cấp tốc từ thợ vận hành máy xúc điện do chuyên gia hãng KOMATSU hướng dẫn; phân loại tình trạng thiết bị, lập kế hoạch mua sắm vật tư, phụ tùng thay thế nâng cấp qua các kỳ trung, đại tu thiết bị. Đến nay 100% số máy xúc cũ đều có “ruột” mới từ: máy phát, động cơ, tủ điện 1 chiều, cần máy, tay gầu, trục trung gian các loại đảm bảo chất lượng, nâng cao giờ hoạt động. Những năm gần đây các máy xúc EKG cũ như máy số 8, số 11 đều đạt sản lượng 1 triệu m3 đất đá/năm. Các máy xúc EKG-5A số 19, 20, 22 cũng đạt sản lượng hơn 1 triệu m3 đất đá/năm...
Bên cạnh sự quan tâm hỗ trợ của Công ty và các công trường bạn trong dây chuyền sản xuất, cán bộ, công nhân đơn vị luôn tự giác động viên nhau thực hiện tốt trách nhiệm trong sản xuất. Mọi nhiệm vụ kế hoạch của công trường, định mức khoán sản phẩm cho từng gương tầng, loại máy, quy chế thưởng năng xuất, tiết kiệm điện năng dầu liệu và nghĩa vụ quyền lợi của người vận hành được công khai hóa. Công trường thành lập tổ sửa chữa cơ điện, chuẩn bị sản xuất hàng ca phối hợp với thợ vận hành kiểm tra tình trạng thiết bị, chủ động gia công phục hồi các chi tiết nhỏ đáp ứng nhu cầu của các tổ máy xúc, nâng cao giờ hoạt động làm ra sản phẩm. Hàng tháng, hàng quý, năm, công trường cùng các phòng kỹ thuật khai thác, cơ điện lập phương án, kế hoạch tiểu tu, bảo dưỡng, trung tu lần lượt các máy xúc đảm bảo chất lượng kỹ thuật an toàn; chủ động trong quản lý cáp dẫn điện 6KV, quấn cao su non, hấp lại các mối cáp bị vỡ vỏ. Qua thử nghiệm đảm bảo an toàn thay thế cho các máy, tiết kiệm chi phí sản xuất hàng trăm triệu đồng. Đi đôi với đẩy mạnh sản xuất, công trường luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của thợ vận hành. Công nhân bị tai nạn lao động, rủi ro, hoạn nạn, khó khăn trong cuộc sống đều được công đoàn cùng chuyên môn chăm lo giúp đỡ chu đáo, nhờ đó đã động viên được CBCN phấn khởi hăng hái thi đua lao động sản xuất, nhiều tập thể tổ máy đã xúc đạt năng suất kỷ lục cấp Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Từ năm 2001-2008 năm nào công trường cũng có từ 5-7 tổ máy xúc EKG, PC750 và PC1250 đạt năng suất kỷ lục cấp TKV. Thu nhập bình quân của thợ vận hành máy xúc đạt 5 triệu đồng/người/tháng.