Từ khi thành lập đến nay Công ty Tuyển than Hòn Gai - TKV đã ba lần thay đổi mô hình tổ chức và tên gọi: Từ Xí nghiệp Bến Hòn Gai (tháng 8-1960) đến Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai (1975) rồi Công ty Tuyển than Hòn Gai (2001). Mỗi lần thay đổi mô hình tổ chức và tên gọi là đơn vị lại phát triển thêm một bước cả về đội ngũ, sản lượng, quy mô, công nghệ hoạt động và hiệu quả kinh doanh.
Trong suốt 50 năm xây dựng và trưởng thành, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào những người công nhân, cán bộ Tuyển than Hòn Gai vẫn vững vàng, kiên định, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, vượt lên chính mình để vững bước đi lên.
Toàn cảnh nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng - Công ty Tuyển than Hòn Gai - TKV.
Ảnh: THG
Với nhiệm vụ chủ yếu là vận chuyển than nguyên khai của các mỏ vùng Hạ Long, sàng tuyển, chế biến thành than thương phẩm phục vụ nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu, ngay sau khi thành lập, Công ty đã nhanh chóng sắp xếp lại sản xuất. Những năm đó Công ty luôn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu từ 104% đến 110%, mà đỉnh cao là tổng sản lượng năm 1965 đạt gần 1,24 triệu tấn than sạch và 132 nghìn tấn than luyện. Trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Công ty nằm trong địa bàn trọng điểm bắn phá ác liệt của không quân Mỹ đó là Bến phà Bãi Cháy và Cảng Hòn Gai. Nhưng với khẩu hiệu “Tay búa tay súng”, phát huy truyền thống bất khuất kiên cường, dũng cảm, không sợ gian khổ, hy sinh, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh là Đại đội pháo 37 ly và người Đại đội trưởng kiêm Bí thư Chi bộ - Anh hùng liệt sĩ Đặng Bá Hát đã chỉ huy 115 trận, bắn rơi 2 máy bay Mỹ, bên cạnh đó Công ty đã chọn cử và tiễn 500 CNVC là những thanh niên ưu tú gia nhập các lực lượng vũ trang để chi viện cho tiền tuyến. Giai đoạn đó Công ty là lá cờ đầu trong phong trào thi đua lao động sản xuất và chống đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, thành tích đó đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1975); Đồi pháo 37 ly được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử văn hoá (1995).
Chiến tranh kết thúc, đất nước hoà bình, thống nhất, Công ty bắt tay ngay vào khôi phục và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất. Trong bộn bề công việc và chồng chất những khó khăn do chiến tranh để lại. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, CBCNVC lại thể hiện khí phách anh hùng trên mặt trận sản xuất. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: Sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc, toàn thể CNCB Công ty đồng sức đồng lòng vượt qua mọi thử thách, khắc phục mọi khó khăn, phát động các phong trào thi đua, mở các chiến dịch sản xuất than quyết thắng, nhiều điển hình tiên tiến đã xuất hiện, tiêu biểu là tổ chức chạy tàu theo lịch từ 6 chuyến/ca lên 10 chuyến/ca, nâng sản lượng kéo than mỏ từ 1,5 triệu tấn/năm 1975 tăng lên 2,1 triệu tấn/năm 1978.
Năm 1986 thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng như toàn ngành Than lúc bấy giờ, Công ty lại gặp không ít khó khăn: Than tồn kho nhiều, không tiêu thụ được, phải thu hẹp sản xuất, lao động dôi dư, việc làm, đời sống CNVC càng khó khăn thêm. Nhưng dưới sự quan tâm và chỉ đạo của ngành Than và tỉnh Quảng Ninh, Công ty đã tập trung sức lực, trí tuệ, tiếp cận, tìm hiểu và làm quen với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, sắp xếp lại lao động hợp lý, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới công nghệ. Năm 1993 Chính phủ đã phê duyệt đầu tư xây dựng Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng, công nghệ hiện đại của AUSTRAYLIA, công suất 2 triệu tấn/năm, tổng giá trị đầu tư gần 300 tỷ đồng. Năm 1997 Nhà máy chính đi vào hoạt động, nhưng Công ty lại gặp khó khăn, thách thức bởi dây chuyền, công nghệ không đồng bộ, chất lượng than nguyên khai mỏ cung ứng chưa đúng với thiết kế; các điều kiện về kho bãi, đường bộ, đường sắt, hệ thống xử lý bùn nước chưa đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ kỹ thuật còn bỡ ngỡ với công nghệ mới, lại không có chuyên gia hướng dẫn vì vậy vận hành được nhà máy chạy đã là khó, nên sản lượng ban đầu chỉ đạt 1 triệu tấn/năm (bằng 50% công suất thiết kế). Mặc khác, theo quy hoạch của TP Hạ Long, để đảm bảo môi trường sinh thái nên Công ty phải thu hẹp sản xuất từ 3 cảng tiêu thụ rút xuống còn 1 bến cảng Nam Cầu Trắng nhỏ, hẹp lại hoàn toàn phụ thuộc vào thuỷ triều, đồng thời phải di chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất đã có hàng trăm năm ra khỏi trung tâm thành phố; Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng xây dựng hoàn toàn bằng vốn vay, khi đi vào hoạt động dôi dư 1/3 lao động.
Một góc kho chứa thành phẩm ở Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng.
Ảnh: Đỗ Giang
Một lần nữa những thách thức, khó khăn mới lại đến với Công ty, nhưng với truyền thống kỷ luật và đồng tâm, bằng trí tuệ, sự phấn đấu bền bỉ của tập thể CB-CNLĐ, 10 năm qua nhiều giải pháp kỹ thuật, cải tiến công nghệ được đưa vào sử dụng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình như: Từ 1 hệ sàng khử nước công suất tối đa 120 tấn/h đơn vị đã lắp thêm 2 hệ sàng, nâng công suất lên 220 tấn/h. Bên cạnh đó Công ty còn lắp thêm 2 hệ xoáy lốc phân cấp thành phẩm, 1 hệ máng xoắn, đầu tư 1 dây chuyền tuyển nổi để triệt tiêu than bùn, tăng tỷ lệ than cám tốt để xuất khẩu đồng thời tận thu 100% nước tuần hoàn, tiết kiệm tiền mua nước cho nhà máy từ 200 đến 300 triệu đồng/tháng. Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng từ hoạt động chưa đồng bộ, công suất 1 triệu tấn/năm đã vươn lên trên 3,2 triệu tấn (năm 2009), vượt 60% so với công suất thiết kế. Và với 20 loại than thương phẩm đa dạng về chủng loại, chất lượng cao, đạt ở độ tinh hơn như cám 1, cám 2, cám 3a, 3b và cục 5… (là những loại than khó làm, nhiều công ty không làm được) đã đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng truyền thống Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc. Bên cạnh các giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh, Công ty luôn kiện toàn bộ máy quản lý, chỉ huy sản xuất gọn nhẹ, chăm lo công tác đào tạo nguồn nhân lực, áp dụng các hình thức khoán chi phí sản xuất đến từng người lao động, gắn chặt kết quả sản xuất với tiền lương, tiền thưởng nên đã khuyến khích mọi người hăng say lao động sản xuất. Đặc biệt trong 2 năm (2008-2009), mặc dù bị ảnh hưởng của suy thoái tài chính thế giới nhưng các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty vẫn thể hiện sự tăng trưởng nhảy vọt, năm sau cao hơn năm trước. Riêng năm 2009, sản lượng than tiêu thụ đạt trên 2,8 triệu tấn, (tăng 16 %); doanh thu trên 1.706 tỷ đồng (tăng 23%); thu nhập bình quân của CB-CNLĐ đạt 5,4 triệu đồng/người/tháng, tăng 23% so với năm 2007. Đến nay toàn bộ diện mạo khu vực sản xuất Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng đã được đổi thay so với thời kỳ đầu. Nhà máy có 7 khuôn viên cây xanh; 100% đường bộ được trải nhựa và bê tông hoá, các hệ thống phun sương, tưới nước hoạt động liên tục 3 ca, do vậy Công ty được tặng rất nhiều bằng khen của các cấp, ngành về công tác bảo vệ môi trường. Bằng sự nỗ lực vượt bậc, tinh thần hăng say lao động sáng tạo của tập thể CB-CNLĐ, từ một đơn vị không có lợi nhuận Công ty đã vươn lên là một trong những đơn vị xuất sắc nhất trong phong trào thi đua của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam với lợi nhuận trên 100 tỷ đồng/năm.
50 năm qua, từ một đơn vị có cơ sở vật chất thủ công lạc hậu, manh mún, nguồn nhân lực chủ yếu là lao động phổ thông (thời kỳ cao nhất có gần 4.000 lao động), số người có trình độ trung cấp, đại học chỉ đếm trên đầu ngón tay, đến hôm nay Tuyển than Hòn Gai đã có cả một cơ ngơi công nghiệp hiện đại, hầu hết công nhân đều qua trường lớp đào tạo (trong gần 1.500 CB-CNLĐ có trên 200 người trình độ đại học và cao học; 205 người trình độ cao đẳng, trung cấp; 805 công nhân kỹ thuật, thợ giỏi…) đủ năng lực đảm nhận nhiệm vụ trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Vị thế và thương hiệu Tuyển than Hòn Gai đã được các bạn hàng trong và ngoài nước ghi nhận.
| Một số thành tích nổi bật của đơn vị + Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1975) |