Năm 2005, khi tiến hành khai quật tại di tích Ba Vũng (Vân Đồn) các nhà chuyên môn đã khá bất ngờ khi chỉ trên diện tích chưa đầy 20 m2 mà phát hiện hơn 400 mũi khoan, gần 1.000 phác vật mũi khoan và hàng nghìn mảnh tách, mảnh tước, hạch đá - là nguyên liệu, phế vật trong quá trình chế tác.
Điều này cho thấy Ba Vũng là một công xưởng chế tác các loại mũi khoan đá có quy mô lớn, diện tích rộng, mật độ tích tụ sản phẩm cao và có lịch sử gần 1000 năm. Ba Vũng cũng được đánh giá là một trong số ít công xưởng chế tác đồ ngọc đầu tiên của người Việt cổ.
Kỹ thuật chế tác đá ngọc của người Quảng Ninh từ xa xưa đã đạt đến trình độ thẩm mỹ cao.
Theo các tài liệu nghiên cứu của giới khảo cổ học khẳng định, đồ ngọc xuất hiện đầu tiên ở Quảng Ninh vào hậu kỳ đá mới, cách ngày nay 5000 đến 4000 năm. Tiếp theo Ba Vũng, hàng loạt các di tích thuộc thời đại kim khí cũng thể hiện sự phát triển không ngừng về kỹ thuật chế tác và sử dụng đồ ngọc. Trong di tích Bồ Chuyến (Hạ Long), một di tích quan trọng thuộc Văn hoá Phùng Nguyên đã phát hiện nhiều rìu, bôn... vòng trang sức bằng đá. Không ít hiện vật trong số này được chế tạo với kỹ thuật tinh tế, trang trí vành khăn có nhiều đường chỉ, hình dáng thanh mảnh, nhẹ nhàng như vòng tay, khuyên tai. Song có lẽ đỉnh cao trong việc chế tác đá ngọc thời tiền sử là cư dân thời tiền sử ở Đầu Rằm - Cành Chẽ (Hoàng Tân, Yên Hưng), Hòn Hai - Cô Tiên (Hạ Long). Tại đây các nhà khoa học đã thu lượm hàng vạn mảnh cưa bằng đá cát kết, những sản phẩm bằng ngọc rất phong phú như rìu, bôn, đục, mũi khoan, vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi. Đặc biệt trình độ chế tác đồ đá đạt đến độ thẩm mỹ cao như những vòng chuỗi, vòng tay có mặt cắt, khuyên tai có khe hở và đường ren đều hay những hạt chuỗi có hình trụ dài, bóng được làm từ nguyên liệu đá màu vàng, trắng, xám, xanh được tìm thấy chủ yếu ở Hòn Hai - Cô Tiên.
Giai đoạn hậu Đông Sơn (từ thế kỷ I-V sau Công nguyên) đá ngọc trên địa bàn Quảng Ninh chủ yếu được chế tác làm đồ trang sức hoặc tế lễ. Tại các di tích Đá Bạc (Vân Đồn), Mạo Khê (Đông Triều), Sông Khoai, Tiền An (Yên Hưng) đều có công cụ mai đá lớn và rất nhiều đồ trang sức được làm bằng các loại đá quý như mã não, thạch anh, thuỷ tinh tự nhiên, hổ phách với hình dáng trang trí dạng hoa văn mà dân gian quen gọi là đá “Lạt Ma”. Chủng loại trang sức cũng rất phong phú, gồm chuỗi đeo cổ, tay, tai hình tròn, vuông, ô van, vòng đeo tay, tai các loại tròn, dẹt, hình chữ D... Điều thú vị là còn có các loại trâm cài đầu, một số tượng thú nhỏ được tạc rất đẹp bằng chất liệu đá như ve sầu, lợn, rồng... Loại hình đồ ngọc trong giai đoạn hậu văn hoá Đông Sơn được coi là chuyên biệt, rất ít vòng tay, hạt chuỗi mà chủ yếu là khuyên tai có hình dẹt, bản rộng, mép ngoài vát tròn hoặc nhọn, màu sắc sáng hoặc đậm, chủ yếu bằng đá nephrite. Có thể nói thời kỳ hậu Đông Sơn, kinh tế, văn hoá, xã hội đã tương đối phát triển, đồ đá ngọc, đặc biệt là đồ trang sức, trở thành một tiêu chí của giới quý tộc đương thời.
Qua đây có thể thấy không chỉ có Ba Vũng, vùng đất Quảng Ninh xưa còn có hàng chục công xưởng chế tác đồ đá khác với hàng vạn sản phẩm có giá trị. Nghề chế tác đồ ngọc ở đây đã trở thành nghề thủ công có những lan toả nhất định về kỹ thuật chế tác, về trao đổi sản phẩm trong cộng đồng người Việt cổ vùng ven biển, cụ thể kéo dài từ Móng Cái đến Đông Triều...