Đảm bảo tăng trưởng ổn định sản xuất công nghiệp

Năm 2017, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, song sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì ổn định, đạt mức tăng trưởng khá, vượt kế hoạch đề ra. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 4,46% so với cùng kỳ năm 2017.

[links()]

Sản xuất sợi tại Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Texhong Ngân Hà, KCN Texhong
Sản xuất sợi tại Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Texhong Ngân Hà, KCN Texhong Hải Hà.

Sản xuất than là ngành đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh (đóng góp 41% tổng thu nội địa). Tuy nhiên, năm 2017, ngành Than gặp nhiều khó khăn, nhất là việc tiêu thụ nội địa. Nguyên nhân chủ yếu là do sản lượng than cung cấp cho nhà máy nhiệt điện giảm 9,9% so với cùng kỳ. Diễn biến thời tiết bất thường, mưa kéo dài, lượng mưa lớn nên ngành Điện phải ưu tiên huy động tối đa các nhà máy thủy điện để khai thác nguồn nước.

Thêm vào đó, từ đầu năm 2017, Chính phủ cho phép các nhà máy nhiệt điện chạy than chủ động lựa chọn nhà cung cấp khác ngoài TKV và Tổng Công ty Đông Bắc. Do đó, TKV và Tổng Công ty Đông Bắc đóng vai trò là một trong những kênh cung ứng than cho các nhà máy nhiệt điện trên cơ sở hợp đồng mua bán dài hạn.

Điều này đã khiến cho than tồn kho lớn, các đơn vị cân đối lại sản xuất, sản lượng than sạch giảm. Riêng TKV, sản lượng than tiêu thụ cả năm đạt 32 triệu tấn, giảm 2,5 triệu tấn so với kế hoạch đầu năm.

Tuy nhiên, bên cạnh sự sụt giảm sản lượng của ngành Than thì hầu hết sản lượng của các sản phẩm công nghiệp chủ yếu khác đều tăng so với cùng kỳ. Theo báo cáo của Sở Công Thương, ước đến hết năm 2017, về sản lượng: Điện sản xuất tăng 11,2%, gạch nung tăng 3,6%, xi măng tăng 1,4%, clinke tăng 2,3%, sợi bông cotton tăng 13,4%, bia các loại tăng 8,6%, thủy sản tăng 1,7%, bột mỳ các loại tăng 14,8%, quần áo các loại tăng 22,6%... Qua đó, góp phần đưa chỉ số sản xuất công nghiệp của các ngành công nghiệp khác tăng trưởng, như: Ngành chế biến, chế tạo tăng 4,9%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt tăng 11,3%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 9,6%. Điều này đã bù đắp phần nào sự sụt giảm của sản xuất công nghiệp khai khoáng, duy trì tăng trưởng ổn định của hoạt động sản xuất công nghiệp.

Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại KCN Texhong Hải Hà đi vào hoạt động ổn định trong năm nay đã góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong đó, hầu hết các doanh nghiệp đều có bước tăng trưởng khá với doanh thu hàng trăm tỷ đồng, như: Công ty TNHH Texhong Ngân Hà đạt hơn 2.500 tỷ đồng; Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam đạt hơn 297,7 tỷ đồng; Công ty TNHH Đại Đông Việt Nam đạt 119,4 tỷ đồng.

Sản xuất gạch không nung tại Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền.
Sản xuất gạch không nung tại Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền.

Được biết, 6 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng thấp này cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp đang đối mặt với nhiều khó khăn. Từ thực tế trên, tỉnh đã thực hiện những giải pháp đồng bộ, quyết liệt và thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất công nghiệp, tạo sự bứt phá trong những tháng còn lại của năm.

Tỉnh đã thực hiện quyết liệt các nhiều giải pháp cụ thể hóa Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Trong đó, từ tỉnh đến các sở, ngành và địa phương thường xuyên lắng nghe để tháo gỡ kịp thời vướng mắc của doanh nghiệp theo từng vấn đề cụ thể, như: Sở Công Thương tiếp xúc, đối thoại với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; Cục Hải quan tỉnh phối hợp với TP Móng Cái tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, máy móc thiết bị phục vụ trong và ngoài ngành Than… Đồng thời, thành lập Tổ tư vấn giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

Riêng đối với ngành Than, bên cạnh ký kết quy chế phối hợp với TKV, Tổng Công ty Đông Đắc, theo định kỳ hoạt động, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các sở, ngành, địa phương đã làm việc với lãnh đạo TKV, Tổng Công ty Đông Bắc để tháo gỡ các khó khăn vướng mắc cho ngành Than, góp phần ổn định, duy trì sản xuất và phát triển cho các đơn vị ngành Than. Qua đó, ổn định việc làm, thu nhập cho đời sống công nhân, lao động tại các khu vực sản xuất than trên địa bàn.

Nhằm tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp, tỉnh đã nghiên cứu xây dựng các chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp và doanh nghiệp thứ cấp, ban hành các quy định chi tiết, trình tự thủ tục thực hiện dự án đầu tư phù hợp với địa phương; xây dựng bộ tài liệu giới thiệu về khu công nghiệp, khu kinh tế bằng 5 ngôn ngữ: Việt, Anh, Trung, Hàn, Nhật, để phục vụ công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước; hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp đổi mới công nghiệp; đẩy mạnh cải cách hành chính…

Mặt khác, thời gian qua, tỉnh đã tập trung các nguồn lực đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng liên kết thiết yếu như: Đường cao tốc Hạ Long-Vân Đồn, Hạ Long-Hải Phòng, cảng ICD Thành Đạt… Qua đó, không chỉ cải thiện môi trường kinh doanh, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh mà còn thu hút các nguồn lực đầu tư triển khai các dự án sản xuất công nghiệp, nhất là các dự án sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo, hỗ trợ.

Cao Quỳnh

Cùng chuyên mục