Kinh tế di sản - Nguồn lực cho chặng đường phát triển mới

Nếu trước đây, than đá được ví như “vàng đen”, tạo nên nền tảng kinh tế của Vùng mỏ, thì trong không gian phát triển mới, các giá trị văn hóa và di sản đang được nhìn nhận như một nguồn lực đặc biệt. Khác với những nguồn tài nguyên hữu hạn, di sản có khả năng được bồi đắp và gia tăng giá trị qua quá trình bảo tồn, khai thác và sáng tạo. Khi được phát huy đúng hướng, di sản không chỉ tạo sức hút cho du lịch, mà còn mở rộng không gian phát triển cho dịch vụ, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, qua đó trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho tăng trưởng bền vững.

Du khách tham quan, khám phá văn hóa đặc sắc tại Bảo tàng Quảng Ninh.
Du khách tham quan, khám phá văn hóa đặc sắc tại Bảo tàng Quảng Ninh.

Di sản - Lợi thế tạo khác biệt

Sau hơn một thập niên kiên trì chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, Quảng Ninh đã tạo được những dấu ấn rõ nét trong phát triển hạ tầng, cải cách hành chính, thu hút đầu tư và mở rộng không gian kinh tế. Song song với đó, một hướng đi ngày càng được định hình rõ hơn, đó là phát triển dựa trên những giá trị vốn có của thiên nhiên, văn hóa và lịch sử.

Quảng Ninh hiện sở hữu hệ thống di sản phong phú với hơn 600 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; hơn 360 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, bảo tồn và phát huy giá trị cùng hàng loạt lễ hội truyền thống; các loại hình nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian và nghề thủ công truyền thống của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn. Nổi bật trong đó là Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và Khu di tích và danh thắng Yên Tử nằm trong Quần thể Di sản văn hóa thế giới Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc. Việc sở hữu đồng thời di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới đã đưa Quảng Ninh trở thành một trong số ít địa phương của Việt Nam có lợi thế đặc biệt về tài nguyên di sản. Đây cũng là nền tảng để tỉnh xây dựng bản sắc riêng trong cạnh tranh thu hút đầu tư và phát triển du lịch chất lượng cao.

Thuyền ba vách trên vịnh Hạ Long là sản phẩm du lịch mới được du khách yêu thích.
Thuyền ba vách trên vịnh Hạ Long là sản phẩm du lịch mới được du khách yêu thích.

Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định: Phát triển văn hóa gắn với công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế đêm và kinh tế đô thị là một trong những khâu đột phá của nhiệm kỳ. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy "bảo tồn để gìn giữ" sang "bảo tồn để phát triển", biến các giá trị văn hóa thành động lực tăng trưởng mới. Có thể thấy, trong tầm nhìn phát triển mới, di sản không còn là "điểm nhấn" của du lịch mà trở thành một cấu phần quan trọng, đặt ở vị trí trung tâm trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Những năm gần đây, tỉnh liên tục dành nguồn lực cho trùng tu, tôn tạo di tích, phục dựng lễ hội truyền thống, số hóa dữ liệu di sản, nâng cao chất lượng hoạt động của bảo tàng và các điểm tham quan; đồng thời khuyến khích xã hội hóa trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận nỗ lực bứt phá trong việc huy động nguồn lực. Toàn tỉnh đã thực hiện 31 dự án tu bổ di tích với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 850 tỷ đồng. Tỷ trọng xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác chiếm tới 95,72%, tương đương hơn 813 tỷ đồng, trong khi ngân sách nhà nước đóng vai trò dẫn dắt với khoảng 36,3 tỷ đồng.

Song song với bảo tồn, Quảng Ninh cũng đẩy mạnh phát triển kinh tế di sản. Hoạt động du lịch di sản là thành phần cốt lõi của kinh tế di sản Quảng Ninh, đóng góp quan trọng vào sự phục hồi kinh tế sau đại dịch. Năm 2025, toàn tỉnh đón gần 21,3 triệu lượt khách, tăng gần 4,9 lần so với năm 2021, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 4,5 triệu lượt. Tổng thu từ khách du lịch đạt 57.003 tỷ đồng, tăng hơn 7 lần sau 5 năm. Trong 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh đón khoảng 15,1 triệu lượt khách du lịch, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó khách quốc tế đạt 3,11 triệu lượt, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2025. Doanh thu đạt hơn 44.300 tỷ đồng.

Các tàu du lịch chở khách tham quan ven bờ vịnh Hạ Long về đêm.
Các tàu du lịch chở khách tham quan ven bờ vịnh Hạ Long về đêm.

Tính riêng Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, trung bình mỗi năm, vịnh đón 3-4 triệu lượt khách tham quan, cao điểm có ngày đón 25.000-30.000 lượt khách. Cụm di tích Yên Tử, Bạch Đằng, nhà Trần đón 2-3 triệu lượt khách tham quan, hành hương. Hằng năm diễn ra 8 lễ hội truyền thống quy mô lớn, có thời điểm đạt 50.000-60.000 lượt khách/ngày. Riêng trong 7 tháng năm 2026, khách tham quan vịnh Hạ Long đạt trên 2,13 triệu lượt; khách tham quan cụm di tích Yên Tử, Bạch Đằng, nhà Trần đạt trên 2 triệu lượt.

Kinh tế di sản và du lịch đã khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó du lịch đóng góp khoảng 10,46% vào GRDP của tỉnh năm 2025. Kinh tế đêm cũng trở thành một mắt xích quan trọng. Việc phát triển các không gian biểu diễn nghệ thuật, sản phẩm du lịch thực cảnh, hoạt động trải nghiệm và dịch vụ về đêm giúp kéo dài thời gian lưu trú, mở rộng không gian tiêu dùng và gia tăng mức chi tiêu của du khách.

Từ chỗ chủ yếu thực hiện nhiệm vụ bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa, Quảng Ninh đang từng bước phát huy giá trị di sản như một nguồn lực phát triển, tạo dư địa cho các ngành kinh tế dịch vụ, du lịch và công nghiệp văn hóa; qua đó đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Đằng sau những con số về khách và doanh thu là sự vận động của một chuỗi hoạt động kinh tế rộng lớn. Du lịch tạo việc làm, kích thích tiêu dùng, thúc đẩy vận tải, logistics, thương mại, dịch vụ, bất động sản nghỉ dưỡng và thu hút đầu tư vào các dự án văn hóa, du lịch quy mô lớn. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho việc di sản tạo ra một chuỗi giá trị kinh tế rộng lớn, từng bước chuyển hóa thành nguồn lực phát triển thực chất, bền vững.

Động lực bền vững trong kỷ nguyên mới

Trong Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050 đã xác định rõ mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố gắn với di sản mang tầm quốc tế, trung tâm kinh tế biển quốc gia và khu vực Đông Nam Á, đô thị xanh, hiện đại, thông minh, có bản sắc và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Du khách trải nghiệm không gian tĩnh lặng dưới chân núi Yên Tử.
Du khách trải nghiệm không gian tĩnh lặng dưới chân núi Yên Tử.

Mục tiêu mà Quảng Ninh đặt ra cho năm 2030 cho thấy kinh tế di sản đang được nhìn nhận với quy mô lớn hơn nhiều so với một lĩnh vực bổ trợ cho du lịch. Tỉnh phấn đấu đón 28 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt 160.000-180.000 tỷ đồng, đóng góp 13-15% vào GRDP. Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và du lịch di sản hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương; phát triển kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa và du lịch đêm theo chuỗi giá trị di sản - sáng tạo - tiêu dùng, góp phần tạo động lực tăng trưởng bền vững và hướng tới Net - Zero.

Định hướng này cũng đặt ra yêu cầu mới về cách tổ chức không gian phát triển. Quảng Ninh dự kiến hình thành 3 khu du lịch quốc gia gắn với du lịch đêm và công nghiệp văn hóa, 8 không gian kinh tế di sản và 6 khu vực phát triển kinh tế ban đêm trọng điểm; số hóa 100% di sản văn hóa vật thể, phi vật thể cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt; phục vụ bảo tồn, khai thác du lịch và phát triển sản phẩm du lịch đêm... Cùng với đó là phát triển các không gian biểu diễn nghệ thuật, tổ chức sự kiện quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại và khai thác hiệu quả các thiết chế văn hóa hiện có. Đồng thời, định hướng đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ văn hóa gắn với chuyển đổi số; xây dựng các không gian sáng tạo có sự kết nối giữa cộng đồng, nghệ nhân, nghệ sĩ và doanh nghiệp.

Từ định hướng này, Yên Tử cũng được xác định trở thành đô thị di sản tầm cỡ quốc tế vào năm 2045; từng bước đóng góp vào lộ trình đề nghị UNESCO vinh danh Phật hoàng Trần Nhân Tông là Danh nhân văn hóa thế giới vào năm 2058. Bí thư Đảng ủy phường Yên Tử Bùi Hoàng Giang, cho biết: Địa phương xác định phát triển, bảo tồn di sản là nền tảng văn hóa, là cốt lõi; kinh tế di sản là động lực, con người và thiên nhiên là trung tâm của phát triển bền vững. Từ đó xây dựng Yên Tử trở thành đô thị của di sản, do di sản, vì di sản, cùng di sản, bằng di sản, là di sản; hướng tới mục tiêu trở thành một đô thị di sản tiêu biểu của Việt Nam, khu vực và quốc tế, xứng tầm là phúc địa nghìn năm.

Cùng với việc trở thành nguồn lực và động lực cho phát triển kinh tế, di sản còn góp phần định hình thương hiệu điểm đến, tạo dấu ấn và nhận diện của Quảng Ninh trên bản đồ du lịch thế giới. Vịnh Hạ Long được nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế liên tiếp bình chọn nằm trong danh sách điểm đến tham quan ấn tượng trên thế giới; đồng thời trở thành địa điểm ấn tượng cho nhiều bộ phim của Hollywood. Những danh hiệu này không chỉ khẳng định sức hấp dẫn của vịnh Hạ Long, mà còn góp phần đưa hình ảnh Quảng Ninh đến gần hơn với bạn bè quốc tế, mở rộng không gian hội nhập, nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến và qua đó góp phần quảng bá hình ảnh, vị thế của Việt Nam. Giá trị của di sản vì thế không chỉ được đo đếm bằng lượng khách hay doanh thu du lịch, mà còn được chuyển hóa thành những giá trị kinh tế, xã hội và thương hiệu có sức lan tỏa lâu dài.

Thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa, quảng bá di sản, hợp tác bảo tồn và phát triển du lịch, di sản trở thành một kênh quan trọng thúc đẩy ngoại giao văn hóa, tăng cường kết nối và mở rộng hợp tác quốc tế.

Theo ông Vũ Kiên Cường, Trưởng Ban Quản lý Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử (thuộc Ban Quản lý các khu kinh tế): Ban Quản lý xác định ngoại giao di sản không chỉ nhằm quảng bá hình ảnh vịnh Hạ Long, mà còn là một phương thức huy động tri thức, kinh nghiệm, công nghệ và nguồn lực quốc tế phục vụ trực tiếp cho bảo tồn và phát triển bền vững. Trong giai đoạn phát triển mới, khi Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu đặt ra đối với công tác đối ngoại nói chung và ngoại giao văn hóa nói riêng sẽ ngày càng cao. Trước hết, Ban sẽ tiếp tục duy trì và làm sâu sắc hơn quan hệ với UNESCO và các tổ chức, mạng lưới quốc tế mà Quảng Ninh đã có quan hệ hợp tác lâu năm. Đồng thời, nghiên cứu mở rộng hợp tác với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong bảo tồn di sản, quản lý di sản biển, phát triển du lịch bền vững và phát triển kinh tế di sản, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Qua đó, góp phần nâng cao vị thế của Quảng Ninh, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và đóng góp thiết thực vào công tác đối ngoại chung của tỉnh.

Có thể thấy, kinh tế di sản không chỉ giới hạn trong lĩnh vực du lịch hay văn hóa, mà đã trở thành một mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức, sáng tạo, bản sắc. Đó cũng là cách để những giá trị được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử tiếp tục tạo ra giá trị bền vững trong tương lai. Khi di sản trở thành động lực “lõi”, công nghiệp văn hóa trở thành công cụ chuyển hóa, du lịch trở thành kênh lan tỏa, những giá trị tưởng như thuộc về quá khứ sẽ được tiếp nối trong một cấu trúc kinh tế hiện đại. Đó cũng là cách Quảng Ninh tạo dựng lợi thế cạnh tranh khác biệt, đưa bản sắc trở thành sức mạnh, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành thành phố gắn với di sản mang tầm quốc tế.

Cùng chuyên mục