Ngày 23/2/1930, chỉ 20 ngày sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tại một căn nhà nhỏ bên xóm thợ mỏ Mạo Khê, Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Khu mỏ Quảng Ninh được thành lập với 5 đảng viên. Sự kiện ấy không chỉ đánh dấu bước chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh có tổ chức, mà còn đặt nền móng cho sự phát triển của phong trào cách mạng Vùng mỏ và quá trình hình thành, trưởng thành của tổ chức Đảng trên vùng đất Đông Bắc. Gần một thế kỷ sau, từ hạt nhân chính trị ban đầu ấy, Đảng bộ Quảng Ninh đã lãnh đạo nhân dân vượt qua chiến tranh, gian khó, đổi mới và bứt phá, đưa một vùng đất từng phụ thuộc nhiều vào khai khoáng trở thành một trong những cực tăng trưởng năng động của miền Bắc, hướng tới một tầm vóc phát triển mới.
Nơi thổi bùng ngọn lửa cách mạng
Đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, các khu mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh... từng bước hình thành đội ngũ công nhân đông đảo. Sau những đường lò, nhà máy là cuộc sống cơ cực, tiền công thấp, điều kiện lao động khắc nghiệt và sự áp bức nặng nề của chủ mỏ, cai thầu. Chính trong hoàn cảnh ấy, phong trào đấu tranh của công nhân Vùng mỏ từng bước hình thành và phát triển.
Ban đầu, những cuộc đấu tranh chủ yếu xuất phát từ yêu cầu thiết thân về tiền lương, điều kiện làm việc, chống đánh đập, cắt xén khẩu phần. Công nhân Cửa Ông đình công năm 1903 đòi chủ mỏ cứu chữa cho chị Kiến bị sảy thai trong khi làm việc; thợ mỏ Hà Tu đấu tranh chống cắt xén tiền lương năm 1906; công nhân Đèo Nai phản đối việc chủ mỏ bớt xén tiền lương, gạo và bán thực phẩm với giá cao năm 1914. Đến năm 1925, cuộc bãi công của công nhân Mạo Khê đòi tăng lương giành thắng lợi, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân nơi đây.
Mạo Khê cũng là một trong những địa bàn sớm hình thành đội ngũ công nhân và phong trào cách mạng ở Vùng mỏ. Cuối những năm 1920, phong trào “vô sản hóa” đưa nhiều cán bộ cách mạng về sống, làm việc, tuyên truyền, giác ngộ công nhân. Khoảng năm 1928-1929, với bí danh Phùng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã đến mỏ Vàng Danh, trực tiếp sống và lao động cùng công nhân, qua đó gây dựng cơ sở cách mạng và lựa chọn những công nhân ưu tú để phát triển tổ chức. Những hoạt động đó tạo tiền đề quan trọng về chính trị, tổ chức và lực lượng cho sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Vùng mỏ.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Chỉ 20 ngày sau, ngày 23/2/1930, tại một căn nhà nhỏ cạnh xóm thợ phía Nam mỏ Mạo Khê, nay thuộc khu Dân Chủ, phường Mạo Khê, một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt đã diễn ra: Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Khu mỏ Quảng Ninh được thành lập. Dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Nguyễn Đức Cảnh, hội nghị thành lập chi bộ được tổ chức với sự tham gia của 5 đảng viên gồm: Đặng Châu Tuệ, Vũ Thị Mai, Bùi Đức Giao, Nguyễn Huy Sán và Bùi Văn Mạo. Đồng chí Đặng Châu Tuệ được chỉ định làm Bí thư.
Từ một chi bộ chỉ có 5 đảng viên, hạt nhân cách mạng nhanh chóng phát triển, lan tỏa ra toàn Vùng mỏ. Sau Mạo Khê, các chi bộ ở Hòn Gai, Cẩm Phả - Cửa Ông, Uông Bí - Vàng Danh lần lượt ra đời. Đến tháng 10/1930, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào, Trung ương quyết định thành lập Đặc khu Hòn Gai để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở khu mỏ.
Sự ra đời của Chi bộ Mạo Khê vì thế không chỉ có ý nghĩa đối với riêng một địa bàn. Đây là dấu mốc mở đầu cho quá trình xây dựng tổ chức Đảng và chuyển phong trào công nhân Vùng mỏ từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh có tổ chức, có định hướng chính trị.
Cùng với sự phát triển của tổ chức Đảng, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng được đẩy mạnh. Báo Than được phát hành, góp phần truyền bá tư tưởng cách mạng, giác ngộ và tập hợp công nhân. Những người thợ mỏ vốn bị đẩy vào cuộc sống cùng cực từng bước trở thành lực lượng chính trị có tổ chức, có kỷ luật, có ý thức về sức mạnh của sự đoàn kết.
Chính trong quá trình ấy, những phẩm chất đặc trưng của người công nhân Vùng mỏ được hun đúc: Kiên cường trước gian khó, đoàn kết trong đấu tranh, kỷ luật trong hành động và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Những giá trị đó sau này được kết tinh thành truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, trở thành một trong những nguồn sức mạnh tinh thần bền bỉ của Quảng Ninh qua các thời kỳ lịch sử.
Đảng bộ lớn mạnh, Quảng Ninh vươn mình
Mạch nguồn cách mạng được hun đúc từ những xóm thợ, những đường lò năm xưa tiếp tục được nối dài qua các thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến và xây dựng đất nước.
Ngày 30/10/1963, Quốc hội khóa II phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh. Ngày 18/11/1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định hợp nhất Đảng bộ Hồng Quảng và Đảng bộ Hải Ninh thành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.
Từ ngày 1/1/1964, tỉnh Quảng Ninh chính thức đi vào hoạt động, tạo nên một chỉnh thể thống nhất về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và xã hội ở vùng Đông Bắc. Tên gọi Quảng Ninh được Chủ tịch Hồ Chí Minh gợi ý, kết hợp chữ “Quảng” trong Hồng Quảng và chữ “Ninh” trong Hải Ninh, hàm chứa mong muốn về một vùng đất rộng lớn, yên vui, bền vững. Từ đây, truyền thống cách mạng của Vùng mỏ được đặt trong một không gian phát triển rộng lớn hơn, nơi biển, đảo, biên giới, công nghiệp, thương mại và những giá trị văn hóa đặc sắc cùng hội tụ.
Trong những năm tháng chiến tranh, Đảng bộ, quân và dân Quảng Ninh tiếp tục phát huy truyền thống kiên cường. Với tinh thần “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng”, nhân dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu, bảo vệ vùng mỏ, duy trì sản xuất và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Trong bom đạn, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” tiếp tục được tôi luyện, trở thành sức mạnh để quân và dân Quảng Ninh vượt qua thử thách.
Sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là khi bước vào công cuộc đổi mới, Quảng Ninh đứng trước những yêu cầu phát triển mới. Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp, cơ sở hạ tầng hạn chế, đời sống nhân dân nhiều khó khăn, trong khi mô hình tăng trưởng phụ thuộc khá lớn vào khai thác tài nguyên.
Trong hoàn cảnh ấy, Đảng bộ tỉnh từng bước tìm hướng đi phù hợp, phát huy lợi thế về biển, đảo, cửa khẩu, di sản, công nghiệp và vị trí cửa ngõ giao thương quốc tế. Quảng Ninh chuyển mạnh tư duy phát triển, từng bước giảm sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản, thúc đẩy dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành kinh tế mới.
Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng được thực hiện đồng thời với những đột phá về kết cấu hạ tầng, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng chính quyền điện tử, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị. Quảng Ninh cũng trở thành một trong những địa phương tiên phong thực hiện nhiều chủ trương về đổi mới tổ chức bộ máy, tinh gọn biên chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Những đổi thay đó tạo nên bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội. Năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 11,89%, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước; quy mô nền kinh tế đạt 368.445 tỷ đồng, đứng thứ 7/34 tỉnh, thành phố; GRDP bình quân đầu người đạt 10.402 USD. Cùng năm, Quảng Ninh đón 21,28 triệu lượt khách du lịch, doanh thu đạt trên 57.000 tỷ đồng.
Đằng sau những con số ấy là cả một quá trình tích lũy và chuyển hóa các nguồn lực. Từ một Vùng mỏ với những xóm thợ nghèo, những đường lò thiếu thốn và những cuộc đấu tranh đòi quyền sống, Quảng Ninh đã từng bước hình thành nền kinh tế đa ngành, kết cấu hạ tầng đồng bộ và không gian phát triển ngày càng rộng mở. Cao tốc, cảng biển, sân bay, cửa khẩu, khu kinh tế, khu công nghiệp và hệ thống đô thị hiện đại tạo thành mạng lưới kết nối ngày càng sâu rộng trong nước và quốc tế.
Đi cùng với phát triển kinh tế là công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Từ hạt nhân chỉ có 5 đảng viên ở Mạo Khê, tổ chức Đảng đã không ngừng lớn mạnh, trở thành lực lượng lãnh đạo xuyên suốt trong các thời kỳ cách mạng. Truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của người thợ mỏ cũng được tiếp nối, lan tỏa thành tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, năng động và sáng tạo trong toàn xã hội.
Nếu căn nhà nhỏ bên xóm thợ Mạo Khê là nơi những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho tổ chức Đảng ở Vùng mỏ, thì hôm nay, Đảng bộ tỉnh đang lãnh đạo một Quảng Ninh có quy mô kinh tế thuộc nhóm đầu cả nước, sở hữu hệ thống hạ tầng hiện đại, không gian phát triển rộng mở và khát vọng vươn lên mạnh mẽ.
Chặng đường phía trước đang đặt ra những yêu cầu mới. Quảng Ninh hướng tới mô hình phát triển xanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; tiếp tục tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản. Chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh mở ra một không gian phát triển mới, hướng tới một đô thị xanh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc và một hệ sinh thái đa trung tâm, mở, liên kết.
Đó là một bước tiến mới, nhưng đồng thời cũng là sự tiếp nối của một hành trình đã được vun đắp qua nhiều thế hệ. Gần một thế kỷ kể từ ngày Chi bộ Đảng đầu tiên của Vùng mỏ ra đời, những giá trị được hình thành trong phong trào công nhân vẫn hiện diện trong cách Quảng Ninh đối diện với khó khăn, lựa chọn hướng phát triển và tìm kiếm những động lực mới. Đó là tinh thần không khuất phục trước thử thách; là khả năng biến khó khăn thành động lực; là sự đồng lòng giữa Đảng, chính quyền, doanh nghiệp và nhân dân; là tư duy dám đổi mới để mở rộng không gian phát triển.
Từ những đường lò, xóm thợ năm xưa đến những tuyến cao tốc, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp và đô thị hiện đại hôm nay, có thể nhận thấy một mạch nguồn xuyên suốt, đó là ý chí vươn lên của con người Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhìn lại chặng đường ấy, giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở những thành tựu đã đạt được, mà còn ở khả năng tiếp tục tạo dựng động lực mới từ chính truyền thống của mình. “Kỷ luật và Đồng tâm” không chỉ là ký ức của một thời Vùng mỏ, mà đã trở thành nguồn lực tinh thần để Quảng Ninh tiếp tục đổi mới, sáng tạo và vươn lên.
Từ hạt nhân cách mạng đầu tiên ở Mạo Khê đến Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh hôm nay là một hành trình gần một thế kỷ. Mỗi thời kỳ đặt ra những nhiệm vụ khác nhau, nhưng xuyên suốt vẫn là một khát vọng xây dựng quê hương giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ngày càng tốt đẹp, Quảng Ninh trở thành một địa phương phát triển tiêu biểu của cả nước.
Những thành quả hôm nay là điểm tựa, truyền thống là sức mạnh, còn khát vọng đang mở đường cho chặng hành trình mới tiếp tục viết những trang mới trên mảnh đất đã được hun đúc bởi lịch sử, văn hóa và khí chất “Kỷ luật và Đồng tâm”, cùng cả nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.