Ngày 25/11, tiếp tục phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã tham gia góp ý kiến đối với các chủ trương: Đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035.
Phát biểu thảo luận, đại biểu Vũ Hồng Thanh, Phó Chủ tịch Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh nhấn mạnh: Hai nội dung được thảo luận tại tổ lần này đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ mười, nhằm thể chế hóa Nghị quyết 71 và 72 của Bộ Chính trị. Tuy vậy, vấn đề lớn nhất vẫn là nguồn lực tài chính để triển khai. Vấn đề đặt ra hiện nay là vốn đối ứng của các địa phương, nhất là những địa phương khó khăn chưa tự cân đối được ngân sách, vẫn là thách thức lớn cần tiếp tục xem xét trong quá trình triển khai để bảo đảm tính khả thi. Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục cũng phải tự tham gia bố trí một phần nguồn lực dù đây là chương trình đầu tư công là chủ yếu, đại biểu cho rằng vẫn cần có cơ chế huy động nguồn lực xã hội, áp dụng các hình thức đối tác công tư nhằm tạo thêm nguồn lực, coi vốn đầu tư công là vốn mồi để thu hút nguồn lực xã hội.
Đại biểu dẫn lại kinh nghiệm từ việc tích hợp ba Chương trình mục tiêu quốc gia trước đây, gồm nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc cơ cấu vốn giữa các chương trình khi đó chưa bảo đảm sự hài hòa, trong khi lĩnh vực nào cũng quan trọng: y tế, giáo dục, giảm nghèo hay phát triển vùng dân tộc thiểu số. Dù giai đoạn trước, riêng chương trình dành cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã được bố trí hơn 120.000 tỷ đồng và đã có chủ trương tăng khoảng 15% trong giai đoạn tới, thì việc nay tích hợp thêm chương trình giảm nghèo và nông thôn mới nhưng chỉ bố trí khoảng 100 nghìn tỷ đồng từ ngân sách trung ương khiến sự cân đối bị phá vỡ.
Theo đại biểu Vũ Hồng Thanh, vì các chương trình đều rất quan trọng, Chính phủ nên mạnh dạn xem xét các giải pháp để có thêm nguồn lực.
Đại biểu cũng lưu ý tình trạng phân mảnh giữa các cơ quan soạn thảo chương trình khi mỗi bộ, ngành chỉ quan tâm đến phần việc của mình, dẫn đến trùng lặp mục tiêu và nhiệm vụ giữa các chương trình, thậm chí ngay trong nội tại từng chương trình cũng có trùng lặp. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan Chính phủ và các cơ quan thẩm tra của Quốc hội để sàng lọc, phân định rõ phạm vi: nội dung thuộc giáo dục phải đưa về chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục; nội dung thuộc y tế phải đưa về chương trình mục tiêu quốc gia về y tế… Việc làm này là cần thiết để tránh chồng chéo, nâng cao hiệu quả và bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng trọng tâm.
Một vấn đề lớn cần rút kinh nghiệm từ các chương trình mục tiêu quốc gia hiện tại là hệ thống văn bản hướng dẫn quá nhiều và ban hành quá chậm, khiến địa phương không thể triển khai kịp thời. Do đó, sau khi Quốc hội thông qua nghị quyết, Chính phủ phải phân bổ vốn ngay để các địa phương chủ động chuẩn bị từ đầu năm 2026, tránh tình trạng chậm trễ kéo dài dẫn đến phải xin chuyển nguồn từ năm này sang năm khác như hiện nay. Việc các chương trình liên tục xin phép được chuyển nguồn tạo tâm lý ỷ lại, giảm động lực triển khai và khiến chất lượng thực hiện không đạt như kỳ vọng.
Đại biểu nhấn mạnh rằng tất cả những nỗ lực điều chỉnh cơ chế, nguồn lực và tổ chức thực hiện đều nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt là ở các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là mục tiêu chính trị quan trọng, đòi hỏi sự quyết tâm cao, sử dụng nguồn lực tiết kiệm, hiệu quả và phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan để các chương trình mục tiêu quốc gia trong nhiệm kỳ tới thực sự phát huy tác dụng.
Cho ý kiến đối với Chương trình Mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035, đại biểu Đỗ Thị Lan, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội, ĐBQH tỉnh đánh giá mục tiêu chủ trương rất lớn như: Chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ, phát triển giáo dục nghề nghiệp và hiện đại hóa đại học. Tuy nhiên, nguồn lực hiện có và khả năng huy động vốn đối ứng của các trường đại học còn thiếu chắc chắn, đặc biệt khi nhiều mục tiêu như đạt chuẩn quốc tế đòi hỏi vốn đầu tư cực kỳ lớn. Đại biểu đề nghị ưu tiên rõ ràng cho giáo dục phổ thông và mầm non, đồng thời xây dựng cơ chế thu hút mạnh mẽ vốn xã hội hóa, tư nhân và nước ngoài để bảo đảm khả thi.
Về phân bổ vốn, đại biểu đề nghị tăng phân cấp cho cấp xã được điều chỉnh nội dung chi tiết để tránh tình trạng chậm giải ngân và phải chuyển nguồn. Với những địa phương quá khó khăn, đại biểu đề nghị ngân sách Trung ương nên bảo đảm hoàn toàn thay vì chỉ “ưu tiên hỗ trợ”, vì các địa phương này gần như không có khả năng đối ứng.
Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe nhân dân, đại biểu cơ bản đồng tình với mục tiêu hạ tầng nhưng đề nghị chuẩn hóa lại hệ thống trạm y tế, tránh dàn trải và cần cơ chế linh hoạt điều chỉnh các tiểu dự án, nhất là phần chi thường xuyên vốn đang giải ngân rất chậm. Đại biểu cũng đề nghị quan tâm dự án dinh dưỡng – phần chiếm tỷ trọng vốn lớn – để tránh làm ảnh hưởng các nội dung khác. Về dân số, đại biểu cho rằng nên có tiểu dự án về phân bổ dân cư, nhất là ở những vùng chịu ảnh hưởng nặng bởi thiên tai, nhằm bảo đảm an toàn và ổn định đời sống nhân dân.
Đại biểu Đỗ Thị Lan cho rằng việc lồng ghép nguồn vốn giữa các chương trình là cần thiết nhưng phải do Chính phủ quy định thống nhất. Đồng thời, cần cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt hơn, cho phép giao nhiệm vụ cho các tổ chức và đơn vị sự nghiệp, nhằm bảo đảm các chương trình được triển khai thực chất và hiệu quả.
Phát biểu thảo luận đại biểu Trần Thị Kim Nhung, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh thống nhất cao với việc xây dựng hai Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo và về chăm sóc sức khỏe, dân số giai đoạn 2026–2035. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng mục tiêu của Chương trình giáo dục còn quá rộng và đặt ra yêu cầu rất lớn, trong khi tính khả thi chưa được bảo đảm rõ ràng như Chương trình y tế. Theo đại biểu, dù là chương trình kéo dài 10 năm, nhưng các điều kiện kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2030–2035 có thể biến động khó lường, vì vậy điều quan trọng nhất là phải xác định rõ và làm chắc giai đoạn 5 năm đầu. Kết quả giai đoạn đầu sẽ quyết định khả năng thực hiện giai đoạn tiếp theo.
Đại biểu đặc biệt nhấn mạnh việc phải thu hẹp và cụ thể hóa các mục tiêu của chương trình giáo dục trong 5 năm đầu, thay vì đặt ra những mục tiêu quá lớn như số lượng trường nghề, trường đại học đạt chuẩn quốc tế, vì đây là những nhiệm vụ đòi hỏi nguồn vốn cực kỳ lớn mà ngân sách khó đáp ứng trong thời gian ngắn. Bà đề nghị chọn rõ đối tượng, cấp học, địa bàn ưu tiên, nhất là mầm non, tiểu học, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Liên quan đến vấn đề lồng ghép nguồn vốn giữa các chương trình, đại biểu đề nghị rà soát toàn diện các nội dung để phân định rõ, nội dung thuộc giáo dục thì đưa hết về Chương trình giáo dục; nội dung thuộc y tế thì đưa hết về Chương trình y tế; tương tự với các nội dung thuộc các chương trình khác. Đại biểu lý giải với các làm như vậy vừa tránh trùng lặp, vừa tăng hiệu quả triển khai và tập trung được nguồn lực.
Về cơ chế đặc thù, đại biểu chỉ ra rằng ở các chương trình hiện hành, việc ban hành cơ chế đặc thù quá chậm, quá nhiều văn bản và thậm chí trùng chéo, gây khó khăn lớn cho địa phương. Trong hai dự thảo nghị quyết lần này, cơ chế đặc thù chỉ được quy định chung theo thủ tục rút gọn, nhưng theo đại biểu, cần mạnh dạn giao quyền chủ động cho Chính phủ. Chính phủ là cơ quan xây dựng chương trình, trình Quốc hội, đồng thời trực tiếp triển khai nên sẽ nhận diện nhanh nhất các khó khăn thực tế. Vì vậy, cần cho phép Chính phủ chủ động ban hành, điều chỉnh cơ chế đặc thù; nếu có nội dung vượt luật hoặc khác luật thì báo cáo xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành để kịp thời xử lý.