Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, ngày 5/8, Quốc hội thảo luận tại tổ về 3 dự án luật, gồm: Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Tham gia phát biểu, đại biểu Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh, ĐBQH tỉnh, cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Đại biểu đề nghị dự thảo tiếp tục làm rõ ranh giới giữa hòa giải ở cơ sở với xử lý vi phạm hành chính, hình sự và các thủ tục chuyên ngành; giữ đúng tính tự quản của cộng đồng trong lựa chọn hòa giải viên, trong đó cơ chế chỉ định chỉ nên là giải pháp tạm thời.
Đại biểu cũng đề nghị hoàn thiện quy định về hòa giải trực tuyến, ứng dụng AI, bảo vệ dữ liệu và xây dựng nền tảng số dùng chung; bổ sung quy định về hòa giải thành một phần, làm rõ hiệu lực của thỏa thuận hòa giải thành. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm, đầu mối quản lý và nguồn lực, kinh phí thực hiện, tránh giao cho hòa giải viên và UBND cấp xã những nhiệm vụ vượt quá khả năng.
Đại biểu nhấn mạnh, Luật cần hiện đại nhưng không hành chính hóa hoạt động hòa giải; ứng dụng công nghệ phải lấy con người làm trung tâm, tăng trách nhiệm nhưng phải bảo đảm nguồn lực và cơ chế bảo vệ người thực hiện, hướng tới mục tiêu giữ gìn đoàn kết cộng đồng, khôi phục đồng thuận và hạn chế tranh chấp phát sinh phức tạp.
Đại biểu Chu Lương Trí, Đoàn ĐBQH tỉnh, đề nghị dự thảo Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cần tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người lao động. Đại biểu cho rằng, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là lĩnh vực có đóng góp lớn cho kinh tế, với hơn 1 triệu lao động Việt Nam đang làm việc tại nhiều thị trường. Tuy nhiên, phần lớn người lao động xuất thân từ nông thôn, miền núi, còn hạn chế về thông tin và kỹ năng, dễ gặp rủi ro trong quá trình đi làm việc ở nước ngoài.
Đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng nghề; tránh tình trạng đào tạo hình thức khiến người lao động phải làm những công việc giản đơn, không tương xứng với thời gian, chi phí bỏ ra. Đồng thời, cần rà soát quy định về việc các đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch.
Đối với cơ chế ký quỹ, bảo lãnh, đại biểu đề nghị quy định cụ thể hơn về mức, trách nhiệm và phương thức sử dụng, bảo đảm minh bạch, linh hoạt, không tạo thêm gánh nặng cho người lao động. Đặc biệt, đại biểu nhấn mạnh cần tăng cường các quy định bảo vệ lao động nữ, nhất là trước những rủi ro về việc làm, quyền lợi và các vấn đề phát sinh trong quá trình sinh sống, làm việc ở nước ngoài; qua đó bảo đảm người lao động được bảo vệ đầy đủ hơn khi tham gia thị trường lao động quốc tế.
Tham gia thảo luận, đại biểu Trần Thị Kim Nhung, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, tập trung góp ý vào một số nội dung của dự thảo Luật Xuất bản (sửa đổi), trong đó đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động xuất bản xuyên biên giới, đặc biệt là xuất bản điện tử, bởi dự thảo hiện chủ yếu quy định đối với tổ chức, cá nhân hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, trong khi thực tế có những sản phẩm xuất bản từ nước ngoài cung cấp qua môi trường mạng.
Đối với các quy định về vị trí, mục đích, nguyên tắc hoạt động xuất bản, đại biểu cho rằng cần chọn lọc, quy phạm hóa phù hợp, tránh đưa nguyên văn các nội dung mang tính chủ trương, định hướng vào luật. Các quy định về trách nhiệm tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, tôn trọng lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng cần được diễn đạt chặt chẽ, bảo đảm tính quy phạm và không tạo cách hiểu khác nhau.
Đại biểu đặc biệt lưu ý khái niệm và cơ chế quản lý tài liệu không kinh doanh. Theo đó, cần rà soát lại cách phân loại, tránh quy định quá hẹp khiến những tài liệu không nhằm mục đích thương mại nhưng cần thiết phục vụ nghiên cứu, giáo dục, quản lý nhà nước hoặc hoạt động chuyên môn lại gặp vướng mắc về thủ tục cấp phép, thẩm định. Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị tiếp tục tinh gọn các quy định về quản lý nhà nước và xử lý vi phạm, chỉ đưa vào luật những nội dung thực sự cần thiết, tránh lặp lại các quy định đã được điều chỉnh tại Luật Tổ chức Chính phủ, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc các luật có liên quan.
Đại biểu Đặng Xuân Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội, ĐBQH tỉnh, cho rằng việc sửa đổi Luật Xuất bản là cần thiết nhằm thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng, nhất là Chỉ thị 04 của Ban Bí thư. Tuy nhiên, với phạm vi sửa đổi hiện nay, dự thảo mới chỉ giải quyết một số vấn đề cấp bách, chưa thể chế hóa đầy đủ các yêu cầu đặt ra và có thể sẽ tiếp tục phải sửa đổi toàn diện trong thời gian tới.
Đại biểu đề nghị nhấn mạnh hơn vị trí, vai trò đặc thù của hoạt động xuất bản, coi đây là lĩnh vực tư tưởng quan trọng, góp phần xây dựng nền tảng tri thức quốc gia, tạo lập các giá trị xã hội và bảo đảm an ninh tư tưởng. Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, tinh gọn các quy định về giải thích từ ngữ và quản lý nhà nước, chỉ quy định những nội dung thực sự cần thiết trong luật.
Về mô hình tổ chức nhà xuất bản, đại biểu chỉ ra nhiều bất cập khi hiện tồn tại cả mô hình đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước nhưng cơ chế hỗ trợ, tự chủ và cạnh tranh chưa đồng bộ. Nhà xuất bản theo mô hình doanh nghiệp khó thực hiện nhiệm vụ chính trị, văn hóa nhưng lại thiếu nguồn lực để đầu tư phát triển, chuyển đổi số, mua bản quyền và nâng cấp hạ tầng.
Đại biểu cũng lưu ý cơ chế liên kết xuất bản có nguy cơ bị biến tướng thành “bán giấy phép”, khi một số nhà xuất bản buông lỏng khâu biên tập, kiểm soát nội dung, khoán gần như toàn bộ quy trình cho đối tác tư nhân. Điều này làm ảnh hưởng đến vai trò, trách nhiệm của nhà xuất bản trong kiểm soát chất lượng và nội dung xuất bản. Từ thực tiễn trên, đại biểu Đặng Xuân Phương đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo, đồng thời tính toán việc sửa đổi toàn diện Luật Xuất bản trong thời gian tới để giải quyết căn cơ những vấn đề đang đặt ra.