Giải pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên khoáng sản

Chiếm từ 8,99-11,46% giá trị sản xuất công nghiệp, ngành sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) của tỉnh chỉ đứng thứ 2 sau ngành công nghiệp khai thác than. Đóng vai trò to lớn trong việc xây dựng và hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế của tỉnh, thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan và chủ quan, ngành sản xuất VLXD Quảng Ninh đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại cần sớm được khắc phục.

Sản xuất gạch tại Công ty CP Viglacera Hạ Long (TP Hạ Long).
Sản xuất gạch tại Công ty CP Viglacera Hạ Long (TP Hạ Long).

Năm 2009, nhằm khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản cho sản xuất VLXD, Sở Xây dựng đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3010/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển VLXD tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020. Quy hoạch đã đưa ra những định hướng đúng cho ngành sản xuất VLXD từ việc xây dựng các mục tiêu, quan điểm đến việc lập các phương án phát triển cho từng loại sản phẩm. Theo đó, sau 5 năm thực hiện quy hoạch, năng lực sản xuất VLXD đã đạt cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đây; nhiều công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại đã được đầu tư; cơ cấu sản phẩm đã hợp lý hơn; ô nhiễm môi trường trong sản xuất VLXD cũng đã được khắc phục đáng kể... Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, quy hoạch 3010 cũng đã bộc lộ một số hạn chế. Cụ thể, một số sản phẩm VLXD có lợi thế đều đã đầu tư vượt công suất so với dự báo (gạch tuynel, dự báo năm 2015 sẽ đạt 725 triệu viên, nhưng đến năm 2013, năng lực sản xuất đã đạt 1.203 triệu viên; đá xây dựng dự báo đến năm 2015 sẽ đạt 3,745 triệu m3, nhưng đến năm 2013 năng lực sản xuất đã đạt 4,717 triệu m3; gạch ốp lát dự báo đến năm 2015 đạt 24 triệu m2, nhưng đến năm 2013 năng lực sản xuất đã đạt 29,5 triệu m2…). Trong khi đó một số sản phẩm VLXD khác thì đều phát triển chưa đạt mục tiêu đề ra (đá ốp lát, cát xây dựng, cao lanh, kính xây dựng…); một số sản phẩm VLXD chưa được đề cập (vôi công nghiệp, vật liệu xây không nung sản xuất từ xỉ các nhà máy nhiệt điện, cát tôn nền, bê tông thương phẩm…). Như vậy, việc một số sản phẩm VLXD phát triển vượt quá các chỉ tiêu dự báo quy hoạch gây nên tình trạng cung vượt cầu, khiến cho việc tiêu thụ một số sản phẩm gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng tài nguyên khoáng sản chưa đạt hiệu quả cao. Việc một số sản phẩm VLXD chưa được đề cập trong quy hoạch 3010 cũng làm hạn chế cho việc thu hút đầu tư các nguồn lực sản xuất VLXD thời gian qua.

Theo đồng chí Nguyễn Mạnh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Xây dựng: Quy hoạch 3010 được lập và phê duyệt từ năm 2009, nay đã đến thời hạn xem xét điều chỉnh lại theo quy định. Thực tế yêu cầu phát triển KT-XH tỉnh sau 5 năm đặt ra rất nhiều vấn đề mới cần thiết phải thay đổi điều chỉnh phù hợp. Mặt khác năm 2014, Chính phủ đã điều chỉnh Quy hoạch VLXD Việt Nam đến năm 2020; tỉnh Quảng Ninh đã lập và phê duyệt các quy hoạch chiến lược mới, nhằm định vị lại phát triển tổng thể toàn tỉnh thời kỳ mới (quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh, quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, quy hoạch du lịch, quy hoạch môi trường, quy hoạch thăm dò khai thác khoáng sản...). Do đó cuối năm 2014, Sở Xây dựng đã tham mưu trình UBND tỉnh cho chủ trương lập điều chỉnh Quy hoạch phát triển VLXD tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (thay thế quy hoạch 3010); hiện Sở Xây dựng đang cùng các ngành, địa phương hoàn thiện Đề án Quy hoạch để trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt trong thời gian tới.

Mục tiêu của việc điều chỉnh quy hoạch phát triển VLXD là để phát triển ngành sản xuất VLXD của tỉnh phù hợp với các quy hoạch chiến lược của quốc gia và của tỉnh mới được phê duyệt năm 2014; gắn với các tiểu vùng phát triển của tỉnh, gắn với quy hoạch thăm dò khai thác khoáng sản của tỉnh, gắn với thương hiệu địa phương. Từ đó đưa ngành sản xuất VLXD trở thành ngành sản xuất tiên tiến, hiện đại có trình độ công nghệ ngang bằng các nước trong khu vực và thế giới; phục vụ cung cấp VLXD cho các chương trình, dự án trọng điểm, phát triển hệ thống đô thị và hạ tầng kinh tế của tỉnh; tạo thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương, giải quyết việc làm cho người lao động; loại bỏ hoàn toàn các công nghệ thủ công, lạc hậu gây ô nhiễm môi trường... Phấn đấu từ nay đến năm 2020, giá trị sản xuất VLXD đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8%/năm; giải quyết việc làm thêm cho khoảng 2.500 lao động. Theo đó, quy hoạch sẽ điều chỉnh một số mục tiêu, quan điểm, đưa ra những lựa chọn về sản phẩm VLXD phù hợp, tập trung vào một số những sản phẩm có thị trường tốt, có lợi thế cạnh tranh, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực; đơn cử như dần thay thế những công nghệ sản xuất VLXD bằng phương pháp nung đốt, sấy sang sản xuất VLXD không nung để bảo vệ môi trường; đề xuất các phương án khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả về tài nguyên khoáng sản làm VLXD, phương án phân bố sản xuất trên địa bàn tỉnh hợp lý theo các vùng miền. Phương án quy hoạch sẽ giúp cho các nhà quản lý trong công tác điều hành, phát triển sản xuất. Đồng thời, làm căn cứ cho các nhà đầu tư trong việc định hướng đầu tư các dự án sản xuất VLXD trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn tới... Góp phần thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển bền vững và chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”; thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2622/QĐ-TTg.

Hoàng Nga

Cùng chuyên mục