Đã hơn nửa tháng kể từ khi chúng tôi đặt chân tới Trường TH&THCS Ngọc Vừng (huyện Vân Đồn), thế nhưng những cảm xúc, kỷ niệm về chuyện dạy và học của thầy trò nhà trường vẫn còn nguyên vẹn, in sâu trong tâm thức của mỗi người. Giữa muôn trùng sóng gió với hàng vạn thử thách, khó khăn, chắc hẳn những người thầy ở đây phải vô cùng tâm huyết với nghề giáo, có tình yêu thương hết mực với học sinh mới có thể trụ vững nơi đảo xa.
Biển thử lòng người
7 giờ sáng, chúng tôi có mặt ở Cảng Cái Rồng (huyện Vân Đồn) để đi ra xã đảo Ngọc Vừng. Lượng người đi ra đây không nhiều nên mới chỉ có tàu gỗ, chưa có tàu cao tốc. Giáp Tết Ất Mùi, trời mưa phùn, nhiệt độ ngoài trời khi ấy là 16 độ C. Hơn 3 tiếng lênh đênh trên biển, vừa lạnh, vừa say sóng khiến chúng tôi mệt lử. Âm thanh hỗn độn từ tiếng máy nổ, tiếng sóng biển va đập vào boong tàu khiến chúng tôi thêm vật vã, nôn nao. Đi cùng chúng tôi, thầy giáo Đỗ Đức Đạt, Hiệu trưởng Trường TH&THCS Ngọc Vừng nói: “Hồi trước, lúc mới ra đảo, tôi cũng say sóng như thế. Có phải lúc nào thời tiết cũng ôn hoà đâu. Có những hôm trời mưa to, gió lớn, sóng biển dâng cao, tôi như chẳng còn chút sức lực nào. Thế rồi, đi nhiều cũng thành quen...”. Một thành viên trong đoàn thắc mắc: “Đi có một lần mà nhà báo đã mệt đến vậy, không hiểu, thầy Đạt cùng nhiều thầy, cô giáo trong trường phải đi đi về về trên con tàu gỗ này hàng tuần sẽ mệt đến nhường nào”.
Và rồi, sự mệt mỏi ấy bỗng tan biến phần nào khi chúng tôi nhìn thấy những ngôi nhà khang trang, những con người sinh sống ven đảo Ngọc Vừng. Hoang sơ nhưng Ngọc Vừng vẫn tạo cảm giác gần gũi, thân quen, có một sức hút kỳ lạ. Muốn tới Trường TH&THCS Ngọc Vừng, chúng tôi chỉ mất khoảng 10 phút đi bằng xe túc túc (một loại xe 3 bánh chở khách phổ biến ở đây). Từ xa, chúng tôi đã nghe thấy những âm thanh trầm bổng phát ra từ các lớp học. Khác hẳn với suy nghĩ ban đầu của chúng tôi, ngôi trường hiện lên khang trang, sạch sẽ, vẫn thơm mùi sơn mới. Thấy tôi ngỡ ngàng, thầy Đạt giới thiệu ngay: “Trường mới được đầu tư xây dựng, đưa vào sử dụng từ năm 2014. Thầy cô, phụ huynh, học sinh ở đảo phấn khởi lắm. Việc huy động học sinh đến lớp nhờ đó cũng dễ dàng hơn!”.
Lớp học đầu tiên mà chúng tôi ghé vào là lớp 5, một lớp học chỉ có vỏn vẹn 8 học sinh. Chia sẻ với chúng tôi, cô giáo Đỗ Thị Tĩnh, giáo viên dạy Toán của lớp cho hay: “Học sinh ở đây không nhiều. Mỗi lớp chỉ khoảng trên dưới chục em. Nhà cả 8 em này đều cách trường 6, 7 cây số nhưng các em đi học rất chuyên cần, kể cả khi trời mưa, rét. Đó là niềm an ủi để chúng tôi bám trụ với đảo…”.
Bám đảo “gieo chữ”
Trường TH&THCS Ngọc Vừng có tổng số 27 giáo viên. Trong đó có 21 thầy, cô giáo ở nội trú, phải đi về trong tuần, tức là chiều thứ sáu về, chiều chủ nhật lại ra đảo. Ở xa đảo nhất là cô giáo Lê Thị Thu Hương, sinh năm 1989, quê ở huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Nghe thầy, cô trong trường kể, cô giáo Hương vừa mới lập gia đình vào tháng 2-2015. Lúc chúng tôi ra đảo là thời điểm hai vợ chồng cô giáo Hương mới chỉ cưới được hơn 1 tuần. Cô giáo Hương bảo: “Chồng mình làm việc ở Nam Định. Hai vợ chồng mới cưới, lại xa nhau nên cũng nhớ lắm. Tuần nào cũng vậy, cứ cuối tuần, mình lại lặn lội về Nam Định với gia đình. Mỗi lần đi về mất tới gần 9 tiếng, gồm 5 tiếng rưỡi đi xe ô tô khách và 3 tiếng rưỡi đi tàu gỗ. Vất vả không kể hết nhưng vì đã gắn bó với nơi đây cũng được 2 năm rồi nên mình vẫn chưa tính đến việc chuyển công tác”.
Tham quan một vòng khu ký túc xá, chúng tôi thấy khá chạnh lòng bởi sự thiếu thốn, khó khăn, vất vả của thầy, cô giáo trong trường. Người thì hì hụi nấu ăn, người lại tất tưởi gánh nước, rửa bát… Mỗi phòng nghỉ rộng hơn 20m2 nhưng có tới 3-4 người ở. Ở ngoài sân, chúng tôi vô tình bắt gặp thầy giáo Nguyễn Trung Kiên, sinh năm 1984, quê ở xã Đông Xá, huyện Vân Đồn đang giặt quần áo. Đây là một trong 3 thầy giáo duy nhất ở nội trú trong trường. Vừa múc nước, thầy vừa bảo chúng tôi nhìn vào giếng, rồi buông lời từ tốn: “Nước sạch ở đây vẫn còn hiếm lắm. Nước để giặt quần áo vàng khè thế này đây nên tôi chẳng dám mặc áo trắng bao giờ”. Rồi thầy Kiên đưa chúng tôi sang bể nước ăn. Nước trong hơn một chút, nhưng cũng không có nhiều. Nước sạch chỉ dùng để uống và nấu ăn chứ thầy cô không dám dùng vào việc khác.
Không chỉ thiếu nước sạch, cuộc sống của các thầy, cô giáo tại Trường TH&THCS Ngọc Vừng vẫn còn nhiều thiếu thốn khác. Trong đó, có cả thiếu thốn về ăn uống. Nhìn vào khẩu phần bữa ăn của các thầy cô là chúng tôi đủ hiểu. Có 21 người ở nội trú nên các thầy cô phải chia làm 3 nhóm để nấu ăn. Hầu hết thức ăn được thầy cô mang vào mỗi lần từ đất liền trở về. Cô giáo Vũ Thị Huế, quê ở xã Hạ Long, huyện Vân Đồn tâm sự: “Bữa cơm tối của chúng tôi thường chỉ có 2 món. Một món rau, một món ăn mặn. Món ăn mặn chủ yếu chỉ quanh quẩn: Thịt, trứng, lạc, cá khô. Ăn đến phát chán!”. Ăn uống tiết kiệm như vậy nhưng mỗi tháng, cô giáo Huế cũng tiêu tốn gần 2 triệu đồng. Đấy là chưa kể tiền tàu xe đi lại, trong khi đó, thu nhập của cô cũng chỉ được hơn 5 triệu đồng. Trừ hết chi phí, mỗi tháng cô giáo Huế chỉ để ra được hơn 2 triệu đồng để gửi về gia đình nhỏ của mình. Còn rất nhiều khó khăn khác nữa mà kể cả khi đặt chân tới đảo Ngọc Vừng có lẽ chúng tôi cũng mới chỉ hiểu được phần nào sự gian nan của những người thầy mang con chữ đi gieo ở đảo xa. Sự vất vả ấy có thể đã đánh gục ý chí của nhiều giáo viên vốn quen với sự đủ đầy tiện nghi, vật chất…
Chia tay xã đảo Ngọc Vừng khi ánh hoàng hôn đã dần tắt, chúng tôi cứ trăn trở mãi về những thiếu thốn, vất vả, cũng như sự hy sinh thầm lặng để gieo con chữ cho học sinh ngoài đảo của các thầy, cô giáo nơi đây. Hành trình gieo chữ trên đảo vẫn còn dài, mong rằng, các ngành chức năng sớm có những giải pháp hỗ trợ thiết thực hơn cho sự nghiệp “trồng người” của xã, cũng như các thầy, cô sẽ tiếp tục cố gắng, vượt qua khó khăn, vững vàng công tác nơi đầu sóng, ngọn gió.
Lan Anh