Cùng với nhiều đơn vị khác trong Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, ngày 1-8-1960, Mỏ than Hà Lầm (nay là Công ty cổ phần Than Hà Lầm - TKV) được thành lập.
50 năm qua, cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh của giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp, ngành, tập thể người lao động trong Công ty đã vượt qua nhiều thử thách cùng với ngành Than khắc phục khó khăn, khai thác nhiều than phục vụ sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, cán bộ, công nhân lao động vừa sản xuất vừa chiến đấu và đã làm nên những chiến công chói lọi tô đậm truyền thống đấu tranh anh dũng của những người thợ mỏ. Bước sang thời kỳ đổi mới, thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước, CB-CNLĐ Công ty cổ phần Than Hà Lầm - TKV đã ra sức thi đua lập nhiều thành tích cao trong mọi mặt, sản lượng khai thác năm sau luôn cao hơn năm trước và liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao trong nhiều năm.
Ngày 12-11-2009, Hà Lầm là đơn vị hầm lò đầu tiên của ngành Than Việt Nam đào lò giếng đứng xuống tới độ sâu -300 so với mực nước biển. Đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng, khẳng định sự lớn mạnh của thợ mỏ Hà Lầm, thể hiện sự quyết tâm trong lộ trình phát triển Hà Lầm trở thành một mỏ Sạch, An toàn, Hiện đại và Kiểu mẫu, góp phần cùng TKV trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại, có hiệu quả cao, hài hoà với sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng và thân thiện với môi trường.
Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, TKV cùng thợ mỏ Hà Lầm ở độ sâu -300.
Đầu tư chiều sâu cho nhân lực và công nghệ
Tìm hiểu các bảng biểu chỉ tiêu kỹ thuật của Công ty cho thấy tốc độ phát triển tăng đều qua các năm. Nếu như năm 2005 Hà Lầm đào được 10.337 mét lò, khai thác 1,48 triệu tấn than nguyên khai, năm 2007 đào 12.696 mét lò với 1,76 triệu tấn than thì 6 tháng đầu năm nay Công ty đã khai thác được 1,1 triệu tấn than nguyên khai (than hầm lò đạt 640.000 tấn), đào 7.600 mét lò, bóc xúc 2,3 triệu m3 đất đá, doanh thu 650 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt 6 triệu đồng/người/tháng. Đạt được mức tăng trên, những năm qua Công ty cổ phần Than Hà Lầm - TKV đã làm một cuộc cách mạng trong công tác tổ chức sắp xếp lại lao động, bố trí lại dây chuyền sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ. Đặc biệt chú trọng đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng công tác quản lý kỹ thuật, nghiệp vụ, làm chủ thiết bị công nghệ tiên tiến trong sản xuất. Ưu tiên tuyển dụng đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao được đào tạo cơ bản tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Công ty đã tổ chức nhiều hình thức đào tạo đa dạng, phong phú như đào tạo tại chỗ, phối hợp với các trường dạy nghề đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân, qua đó tay nghề của người lao động không ngừng được tăng cao. Hằng năm Công ty cử nhiều đoàn cán bộ đi tu nghiệp tại các nước có công nghệ khai thác than hiện đại như Nhật Bản, Ba Lan, Nga, Trung Quốc, Thuỵ Điển... để học tập, tiếp cận và đưa công nghệ tiên tiến mới vào khai thác. Đồng thời mời nhiều đoàn chuyên gia nước ngoài đến giúp công ty áp dụng công nghệ mới. Hiện nay 100% các lò chợ của Công ty đều đã áp dụng công nghệ chống bằng giá thuỷ lực di động; giá khung GK; hệ thống vận tải, các thiết bị bốc xúc đều được cơ giới hoá. Công ty đã đầu tư nhiều loại máy đào lò hiện đại như AM-50Z, khoan tự hành Tamrốc, máy xúc đá, máy cào vơ… làm tăng năng suất đào lò, giảm thiểu sức lao động và đảm bảo an toàn cho người công nhân. Hà Lầm là đơn vị đầu tiên trong TKV sử dụng hệ thống monoray (Cộng hoà Séc sản xuất) vận chuyển người và thiết bị tới tận nơi khai thác.
Diện khai thác ngày càng mở rộng
Ông Trương Ngọc Linh, Phó Giám đốc Công ty cho biết: “Công ty mới đầu tư Hệ thống giám sát khí mỏ và điều độ tập trung và lắp đặt hệ thống camera quan sát tại các vị trí khai thác trong yếu trong lò. Đồng thời tiến hành khai thác than lộ thiên tại khu 2 vỉa 11; thi công 3 lò ngầm mức -150 và các đường lò xuyên vỉa giữa các vỉa 10, 11 và 14. Áp dụng vì neo bê tông cốt thép kết hợp bê tông phun và lưới thép tại các đường lò đá mức -50 và đường lò xuyên vỉa mức -150 khu 3 vỉa 10; khu 3 vỉa 11; khu 2 vỉa 14. Khoanh vùng hoàn chỉnh các diện sản xuất lò chợ khu 5 vỉa 14; khu 6, khu 7 vỉa 10; khu 3 vỉa 11 tạo diện sản xuất ổn định cho các công trường khai thác và diện gối đầu cho các năm tiếp theo. Lắp đặt hoàn thiện hệ thống băng tải lò thông gió mức -36 đến +0, lò dọc vỉa mức -30 phục vụ vận tải than khai thác lò chợ. Lắp đặt hoàn thiện và đưa vào hoạt động hệ thống đường xe, quang lật tháo đá tại mặt bằng mức +30”.
Cùng với đó, Công ty cổ phần Than Hà Lầm - TKV đang cùng với nhà thầu khẩn trương hoàn thiện lắp đặt thiết bị cho 3 giếng đứng thuộc dự án khai thác than phần dưới mức -50 mỏ than Hà Lầm. Dự án này được khởi công ngày 3-2-2009, có công suất thiết kế 2,4 triệu tấn than/năm bao gồm 1 giếng chính cùng 2 giếng phụ, trong đó giếng chính mang tên 3-2, được đào từ mức +75 xuống mức -345 dài 425 mét, đường kính 5 mét để vận tải than và đưa gió xuống; 2 giếng phụ mang tên 12-11 và 1-8, được đào từ mức +75 xuống mức -300, dài từ 355 đến 395 mét có đường kính từ 5 đến 6,5 mét để vận chuyển người, thiết bị, đất đá, hút gió thải và thoát hiểm khi mỏ có sự cố.
Với ưu điểm cả 3 giếng đều ở trung tâm khai trường, chiều dài các lò xuyên vỉa ngắn, khối lượng đường lò khai thông nhỏ, trữ lượng than lớn (khoảng 110 triệu tấn), do vậy rất thuận lợi cho việc thực hiện cơ giới hoá đồng bộ trong các khâu khai thác và quản lý mỏ. Than sau khi đưa lên miệng giếng chính sẽ được đổ vào hệ thống bunke cấp liệu rót xuống băng tải đưa đi sàng tuyển; đất đá được đưa lên qua giếng phụ bằng trục tải sau đó rót xuống băng tải đưa ra bãi thải...
Dự kiến đến tháng 6-2013 sẽ khai thác tấn than đầu tiên từ lò chợ của dự án này. Lò chợ này được thiết kế công suất 1,8 triệu tấn than/năm, chống giữ bằng giàn tự hành, khấu than bằng máy sau đó đưa ra hệ thống băng tải vận chuyển lên mặt bằng.
Chú trọng an toàn, quan tâm đời sống người thợ
Là đơn vị khai thác hầm lò là chủ yếu do đó công tác an toàn được đặt lên hàng đầu. Công ty có những nghị quyết, chỉ thị cụ thể trong công tác AT-BHLĐ. Có sự phân định rõ ràng giữa Giám đốc và Công đoàn Công ty về công tác AT- BHLĐ. Các quy định về trách nhiệm của cán bộ chỉ huy, chỉ đạo sản xuất của Công ty khá chặt chẽ, các hình thức quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật cán bộ khi để xảy ra tai nạn sự cố rõ ràng ở nhiều cấp. Hệ thống giám sát viên an toàn chuyên trách của Công ty đi theo 3 ca, mỗi giám sát viên giám sát một đơn vị sản xuất trong ca. Công tác kỹ thuật an toàn sản xuất hầm lò đã đi vào nền nếp được phát huy cho những năm tiếp theo. Ý thức chấp hành quy trình, quy phạm của người lao động được nâng cao. Điều kiện sản xuất và làm việc được cải thiện đảm bảo an toàn lao động. Đã làm tốt việc giám sát quy trình làm việc của công nhân trực tiếp trong hầm lò và các bộ chỉ huy sản xuất trong ca. Thực hiện đúng quy trình kỹ thuật cơ bản, đảm bảo an toàn đặc biệt những nơi, vị trí có nguy cơ xảy ra sự cố như: mở lò, bắt mép lò chuẩn bị, nạp nổ mìn, phá hoả ban đầu, xếp cũi lợn, kích nóc, kích hông, vận hành thiết bị máy móc và chuyển tiếp công nghệ mới.
Sản xuất phát triển, đời sống, điều kiện làm việc của người thợ được cải thiện rõ rệt. Các chế độ đãi ngộ, chăm sóc người lao động được chú trọng. Công ty có 6 bếp ăn chính đặt tại khai trường sản xuất và 1 bếp ăn đặt tại nhà tập thể công nhân, 1 bếp ăn đặt tại trụ sở nhà điều hành Công ty, với trên 100 nhân viên cấp dưỡng phục vụ công nhân mỗi ca hai bữa. Công ty có Phòng Y tế với gần 40 y sỹ, bác sỹ làm nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Công ty còn đầu tư xây nhà tập thể (5 đến 11 tầng) với những tiện nghi đầy đủ; nhà sinh hoạt mỏ hiện đại. Từ lâu, ở Hà Lầm đã có nhà tắm nước nóng, nhà giặt sấy bảo hộ lao động, nhà xông hơi để phục vụ thợ lò khi tan ca ngay tại khai trường. Các vị trí làm ở xa được đưa đón bằng xe ô tô. Có khu nhà nghỉ điều dưỡng cho công nhân tại bãi biển Trà Cổ (Móng Cái).
Ông Phạm Công Hương, Giám đốc Công ty cho biết: Mục tiêu của chúng tôi trong thời gian tới là sẽ phát triển Công ty trở thành đơn vị sản xuất than hầm lò hàng đầu, có trình độ công nghệ tiên tiến so với các đơn vị khai thác than ở tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến, sử dụng than, đủ khả năng đáp ứng về cơ bản nhu cầu trong nước và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.