Trải qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, tỉnh Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Điều này đã được tổng kết, đánh giá và ghi nhận tại cuộc Hội thảo “Hội nhập kinh tế quốc tế 30 năm nhìn lại và thực tiễn Quảng Ninh” do Tỉnh uỷ Quảng Ninh phối hợp với Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản và Ban Kinh tế Trung ương tổ chức tại TP Hạ Long vào tháng 12-2014. Báo Quảng Ninh trân trọng trích đăng một số bài tham luận được rút ra từ Kỷ yếu của Hội thảo.
PGS.TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Uỷ viên Hội đồng lý luận Trung ương: “Quảng Ninh đã bứt phá nhanh”
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình đi liền với toàn cầu hoá kinh tế, là kết quả tất yếu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Đối với các quốc gia, hội nhập kinh tế quốc tế có trọng tâm là tham gia vào các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại và khu vực toàn cầu; tham gia vào phân công lao động, hợp tác quốc tế, kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước với nguồn lực bên ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển, chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất trong nền kinh tế khu vực và thế giới. Nền kinh tế của mỗi quốc gia dân tộc là một bộ phận của nền kinh tế thị trường thế giới thống nhất.
Thực tiễn triển khai đường lối đối ngoại đổi mới và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh trong 30 năm qua đã có nhiều sự sáng tạo, phát huy rất tốt thế mạnh của địa phương. Quá trình này đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng thúc đẩy đổi mới về tư duy và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy phát triển KT-XH, góp phần nâng cao vị thế của tỉnh, giữ vững độc lập chủ quyền, xây dựng đường biên giới hữu nghị, thân thiện, phát triển. Quảng Ninh từ một tỉnh phụ thuộc hoàn toàn vào trợ cấp của Trung ương, bứt phá nhanh, trở thành một trong những đầu tàu du lịch lớn của nước ta và khu vực. Đặc biệt, trong 10 năm gần đây, Quảng Ninh đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, mang tính đột phá, nhất là sự vận dụng chủ động, sáng tạo đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, trong đó có chủ trương đường lối hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển KT-XH. Điều này thể hiện rõ qua nỗ lực của lãnh đạo Quảng Ninh quyết tâm cải cách hành chính, chủ động đề xuất và quyết liệt thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho địa phương; xây dựng các quy hoạch để kêu gọi đầu tư phát triển hạ tầng...
Qua 30 năm đổi mới, tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, Quảng Ninh ngày càng nhận thức sâu sắc rằng để tiếp tục hội nhập kinh tế quốc tế thành công, nhất thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, phải đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh. Điểm mới trong nhận thức của lãnh đạo Quảng Ninh về hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là phải chọn lọc các nhà đầu tư chiến lược.
Đồng chí Trần Đức Lâm, Bí thư Thành uỷ Hạ Long, nguyên Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ninh: “Thu hút đầu tư quốc tế đạt kết quả quan trọng”
Quảng Ninh được ví như Việt Nam thu nhỏ, hội tụ nhiều tiềm năng, điều kiện, vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, đối ngoại. Là tỉnh duy nhất có cả đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc; có nhiều cảnh quan nổi trội “có một không hai” như: Vịnh Hạ Long - Di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới, có nguồn tài nguyên khoáng sản lớn, có nền văn hoá truyền thống lâu đời… Nhận diện được các lợi thế này, thời gian qua Đảng bộ, chính quyền Quảng Ninh đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức, tư duy về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Từ tư duy đến hành động của tỉnh đã từng bước bám sát chủ trương, đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, nhận diện được các tiềm năng, lợi thế của mình hội tụ nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi về chính trị, kinh tế, quốc phòng, đặc biệt là một tỉnh có hoạt động biên mậu sôi động… nên đã vận dụng đúng đắn, linh hoạt vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của địa phương, tạo nên các thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Nhất là trong lĩnh vực thu hút đầu tư quốc tế, sau gần 30 năm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Quảng Ninh đã thu được những kết quả quan trọng (mở rộng và tăng nguồn vốn đầu tư phát triển, tăng năng lực sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm mới cho người lao động, thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới thiết bị, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách). Nếu như năm 2000, khu vực FDI chỉ chiếm 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (đạt 225 tỷ đồng), bình quân giai đoạn 2010 chiếm 6% tổng vốn đầu tư và năm 2011 chiếm 8% tổng vốn đầu tư (đạt 3.318 tỷ đồng, tăng 137,5% so với năm 2000). Bên cạnh đó, khu vực FDI cũng thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam và Quảng Ninh, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của tỉnh như công nghiệp chế biến thực phẩm, khai thác chế biến khoáng sản…
Đồng chí Nguyễn Mạnh Hà, Giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh: “Vị thế của tỉnh được nâng lên”
Trong gần 30 năm đổi mới đất nước, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Ninh luôn quyết liệt, chủ động, sáng tạo trong vận dụng đường lối đổi mới, chính sách đối ngoại phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh. Do đó, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt trên 10%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng dịch vụ; GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 3.000 USD (bằng 1,5 lần so với cả nước); tổng thu NSNN thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố cao nhất cả nước. Vị thế của tỉnh được nâng lên, hiện Quảng Ninh là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, tập trung ở các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ cửa khẩu quốc tế… Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có gần 100 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt trên 4,5 tỷ USD của các nhà đầu tư đến từ 17 quốc gia và vùng lãnh thổ; thị trường xuất khẩu mở rộng tới 70 quốc gia; khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh ngày càng tăng (chiếm gần 35% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam); kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2013 đạt 1,85 tỷ USD (gấp hơn 2 lần so với năm 2005). Đặc biệt, ngoài 6 địa phương của Trung Quốc, tỉnh đã thiết lập quan hệ với 8 địa phương khác của các nước: Hàn Quốc, Lào, Belarus. Hiện, tỉnh đang xúc tiến phát triển quan hệ hợp tác với các đối tác tiềm năng là: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ba Lan và một số đối tác khác ở Châu Âu.
Bên cạnh kết quả đạt được, hội nhập kinh tế và hợp tác quốc tế của tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế: Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa bền vững; một số ngành, lĩnh vực phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đặc biệt sản phẩm du lịch, kinh tế biển còn nghèo nàn, thiếu các dự án đầu tư quy mô lớn, chất lượng cao; sản phẩm xuất khẩu có thương hiệu còn ít, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; sản phẩm chủ lực chưa bền vững… Hợp tác về văn hoá, xã hội, KHCN còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Hệ thống kết cấu hạ tầng còn yếu, chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Còn tình trạng thụ động trong hội nhập quốc tế, chưa xác định được lĩnh vực trọng tâm, địa bàn trọng điểm khi tham gia hội nhập. Nguyên nhân chủ yếu là nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, doanh nghiệp và nhân dân về hội nhập quốc tế chưa được đầy đủ sâu sắc; sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chưa thường xuyên; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương chưa đồng bộ, hiệu quả thấp; chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trước bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trong xu thế toàn cầu hoá. Mặt khác, do suy thoái kinh tế thế giới, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn đã tác động trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội, thu hút các nguồn lực đầu tư của tỉnh.
Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc sở xây dựng, nguyên Giám đốc Sở Tài Nguyên & Môi Trường Quảng Ninh: “Ưu tiên giải quyết các nhiệm vụ bảo vệ môi trường”
Với điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng như một “Việt Nam thu nhỏ”, Quảng Ninh được xác định là một địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, là cửa ngõ hội nhập quốc tế với thế giới của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là điểm nút trong khu vực hợp tác 2 hành lang, một vành đai kinh tế Việt - Trung và kết nối với khu vực ASEAN. Tuy nhiên, do yêu cầu về phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp, tốc độ đô thị hoá cao gây ra nhiều hệ lụy cho môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường còn hạn chế, đội ngũ cán bộ quản lý môi trường các cấp không đủ số lượng, năng lực chuyên môn không đáp ứng yêu cầu, quy trình xử lý chất thải còn nhiều bất cập đã làm cho môi trường Quảng Ninh bị suy thoái. Chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh, không khí bị ô nhiễm nặng, gia tăng phát sinh các chất thải nguy hại vào môi trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên còn bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học bị đe doạ… Điều này gây ra áp lực cho nguồn tài nguyên môi trường, công tác bảo vệ môi trường đứng trước thách thức và là nhiệm vụ cấp bách của tỉnh trong quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế bền vững kết hợp với bảo vệ môi trường tự nhiên, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng xanh của tỉnh.
Nhận thức được vấn đề trên, tỉnh chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng văn bản, kế hoạch nhằm cụ thể hoá các chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh; tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ đạo của tỉnh và có hướng dẫn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện, đồng thời tăng cường giám sát trong việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Đồng thời, triển khai thực hiện đồng bộ các Quy hoạch đã được phê duyệt như: Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn 2030, Quy hoạch môi trường tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn 2030, Quy hoạch môi trường Vịnh Hạ Long đến năm 2020 tầm nhìn 2030, Đề án cải thiện môi trường. Trong các quy hoạch trên, tỉnh đã xác định ưu tiên giải quyết các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trên 7 lĩnh vực, đó là: Quản lý môi trường, quản lý môi trường không khí, quản lý chất thải rắn, quản lý rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực quan trắc môi trường. Bên cạnh đó, tập trung chỉ đạo ngành Than thực hiện Đề án bảo vệ môi trường ngành Than đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đảm bảo tiến độ và chất lượng.
Đồng chí Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh: “Xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao”
Là địa phương có điều kiện và tiềm năng để phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, Quảng Ninh đã có những chuyển động lớn về cơ cấu kinh tế, đòi hỏi phải có chuyển động cơ cấu nguồn nhân lực. Xây dựng đội ngũ nhân lực Quảng Ninh có quy mô, cơ cấu, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong điều kiện hội nhập, tạo ra lực lượng lao động có trình độ kỹ năng, kỹ thuật ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo cho các chương trình KT-XH trọng tâm của tỉnh và cho doanh nghiệp trên địa bàn. Đào tạo cán bộ, công chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất năng lực, có phong cách làm việc hiện đại, chuyên nghiệp có khả năng hội nhập kinh tế quốc tế để thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng an ninh.
Quảng Ninh tiến dần đến xu hướng hiện đại hoá nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển dịch các ngành kinh tế từ “nâu” sang “xanh” như một phần trong các mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh. Quảng Ninh sẽ cần một đội ngũ lao động tay nghề cao, đóng góp vào quá trình phát triển của các ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh. Định hướng phát triển của tỉnh được xác định dựa trên cơ sở những chiến lược phát triển KT-XH của khu vực, của đất nước và ý chí quyết tâm của lãnh đạo, nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Dự đoán giai đoạn 2014-2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12-12%/năm. Sự tăng trưởng này được đóng góp chủ yếu từ 2 lĩnh vực: Dịch vụ và các hoạt động công nghiệp khai khoáng khác. Để đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra, Quảng Ninh sẽ cần tổng số lao động trên 870.000 người vào năm 2020. Bên cạnh đó, sự phát triển của các ngành kinh tế trọng điểm sẽ đòi hỏi cần có sự chuyển đổi về trình độ kỹ năng, tay nghề của lực lượng lao động, từ mức chủ yếu là lao động thủ công và sơ cấp như hiện nay sang hướng tăng về số lượng lao động có kỹ năng chuyên sâu.
Để Quảng Ninh đảm bảo có đầy đủ nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, tỉnh đang xây dựng kế hoạch chi tiết về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường phối hợp với các cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động, đồng thời đưa ra các chính sách đúng đắn và tạo nền tảng hợp lý để hỗ trợ và khuyến khích sinh viên, các cơ sở giáo dục và người sử dụng lao động cùng hướng tới các mục tiêu phát triển nhân lực. Cả ba bên sẽ cần phải cùng phối hợp với nhau để có thể cung cấp được những lựa chọn rõ ràng và lợi ích cụ thể cho học sinh, sinh viên, nhằm khuyến khích các em tiếp tục học lên, đặc biệt là các học sinh sau bậc giáo dục phổ thông, được định hướng theo hệ đào tạo nghề hay đào tạo chuyên nghiệp.[links()]