Xí nghiệp 917 là đơn vị duy nhất trong Công ty Than Hòn Gai - Vinacomin khai thác than bằng phương pháp lộ thiên. Trải qua biết bao biến động, thăng trầm và qua nhiều thời kỳ chuyển đổi, sắp xếp lại, có những thời điểm tưởng như khó trụ được, nhưng với tinh thần đoàn kết, kỷ luật và đồng tâm, tập thể Xí nghiệp Than 917 đã vượt qua mọi thử thách và trở thành một phần không thể thiếu trong dây chuyền sản xuất của Than Hòn Gai.
Khai thác than mức -80 khai trường Xí nghiệp Than 917.
Xí nghiệp Than 917 ra đời (30-4-1981) với tên gọi tiền thân là Đoàn địa chất 917 (Liên đoàn Địa chất 9), cơ sở vật chất của đơn vị được trang bị rất nghèo nàn, nhưng với tinh thần quyết tâm và ý thức kỷ luật lao động cao, tập thể CBCN-LĐ đơn vị đã năng động, sáng tạo vừa ổn định tổ chức vừa chỉ đạo sản xuất xây dựng cơ sở vật chất; mở rộng quan hệ hợp tác trong khai thác tiêu thụ than, tận thu tài nguyên. Xí nghiệp đã tổ chức khảo sát hiện trạng địa chất, xác định các lộ vỉa, trữ lượng than nhằm đảm bảo cho sản xuất ngày một tăng dần.
Đồng bộ, hiện đại hoá thiết bị phục vụ khai thác
Sau nhiều lần thay đổi tên gọi, cơ cấu nhiệm vụ, tháng 4-1999 Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam) quyết định thành lập Mỏ than 917 trên cơ sở nâng cấp công trường khai thác 917 với chức năng nhiệm vụ khai thác, chế biến, kinh doanh than, quản lý khai thác cảng lẻ và vận tải thuỷ bộ. Từ năm 2002 đến nay Mỏ được đổi tên là Xí nghiệp than 917. Trong quá trình đổi mới cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty Than Hòn Gai theo hướng tập trung quản lý theo trọng tâm chuyên môn hoá đơn vị được Công ty bổ sung đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, con người để từng bước xây dựng Xí nghiệp trở thành đơn vị sản xuất chính quy, hiện đại. Mặc dù điều kiện khai thác gặp nhiều khó khăn do các vỉa than của xí nghiệp có cấu trúc phức tạp, diện khai thác hẹp, chiều dày vỉa biến động không ổn định, nhiều đá kẹp, khó khăn cho việc đồng bộ hoá thiết bị. Công ty lại đưa toàn bộ thiết bị vận tải than, đất, đưa đón CBCVLĐ hàng ngày, sửa chữa ô tô sang cho xí nghiệp quản lý. Thế nhưng tập thể lãnh đạo, công nhân xí nghiệp không chùn bước mà còn chủ động đề xuất được cải tạo nâng công suất mỏ và đầu tư mua sắm thiết bị mới như xe ô tô vận tải Benlaz, Kpaz, Volvo, Scania, Komatsu, máy xúc thuỷ lực, khoan Tamrock nhằm phục vụ tốt hơn cho sản xuất. Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện cơ giới hoá cao các khâu sản xuất, Xí nghiệp rất chú trọng đến công tác quản lý, vận hành và sửa chữa thiết bị. Đơn vị đã tập trung đánh giá lại hiện trạng của hệ thống cơ điện - vận tải; ban hành lại các quy trình vận hành thiết bị; định mức tiêu hao nhiên liệu cho từng loại xe, máy cụ thể; đào tạo và sát hạch lại toàn bộ công nhân vận hành thiết bị để đảm bảo an toàn kỹ thuật, tăng năng suất đối với từng đầu xe máy. Giao khoán và quyết toán khoán chi phí sản xuất cho các công trường, phân xưởng; đưa các ứng dụng tin học vào quản lý nhiên liệu, vật tư. Tích cực thăm dò mở rộng diện sản xuất và nâng cao công suất mỏ qua đó khai trường đã được quan tâm thực hiện theo tiêu chí mỏ sạch, mỏ an toàn. Tầng khai thác thường xuyên được quan tâm với quy chuẩn theo hộ chiếu như chiều cao tầng, bề rộng mặt tầng, bờ chắn an toàn... không để hiện tượng chập tầng hay độ dốc cũng như bề mặt đường vận chuyển không đảm bảo cho các phương tiện có trọng tải lớn hoạt động.
Nâng cao chất lượng sản phẩm
Tập trung vào nâng cao phẩm cấp, chất lượng than, Xí nghiệp đã ban hành phương án sản xuất than chất lượng và quy chế quản lý chất lượng than, có chế độ thưởng, phạt rõ ràng theo từng độ tro cụ thể từ đó khuyến khích được mọi người trong Xí nghiệp cùng tham gia làm than chất lượng. Cán bộ trực ca phải trực tiếp chỉ đạo, bố trí máy xúc, ô tô có dung tích và trọng tải hợp lý, hướng dẫn thợ lái máy xúc để xúc than chọn lọc, lọc tách theo lớp. Bộ phận KCS lấy mẫu vỉa, mẫu đầu, cuối nguồn trong từng thời điểm ra than để so sánh với kết quả dự kiến, trên cơ sở đó để lãnh đạo Xí nghiệp có sự điều chỉnh hợp lý với tình hình thực tế. Ngoài việc theo dõi sự hoạt động của từng thiết bị như giờ hoạt động, năng suất, sản lượng, sử dụng dầu liệu, công tác kiểm tra giám sát sơ đồ chất tải, số thống kê, số chuyến cũng được các phòng ban quản lý thực hiện tốt, do vậy mà tỷ lệ âm đất đá của đơn vị luôn đảm bảo. Trò chuyện với chúng tôi ông Phạm Hữu Thanh, Giám đốc Xí nghiệp cho biết: “Năm 2010 có thể coi là một mốc son chói lọi của Xí nghiệp, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực công tác, đơn vị được đầu tư thêm 22 xe Komatsu HD 465-7R; thành lập thêm một phân xưởng sửa chữa thiết bị hiện đại, quy mô lớn. Tập thể CBCNVC-LĐ Xí nghiệp đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, dự án phát triển sản xuất nâng cao công suất mỏ như: Phục hồi tích áp xe Volvo A40D; giải pháp trình tự đổ thải hợp lý tại bãi thải Nam, thi công tuyến đường mới từ +90 lên +130 tạo diện cho công tác đổ thải hoàn chỉnh mức +140; cải tiến và phục hồi cụm khí nén máy khoan xoay Drilltech D245S; khoan thăm dò bổ sung vỉa 13 khu vực Suối Lại... Đặc biệt là sự kiện hoàn thành kế hoạch sản xuất 1,35 triệu tấn than về đích trước một tháng, mức tăng trưởng so cùng kỳ năm 2009 bằng 207%. Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và thiết bị. Cùng với đó, chúng tôi xác định phải nâng cao phẩm cấp than để tăng giá trị. Xí nghiệp có cơ chế khuyến khích sản xuất than chất lượng như gắn vào đơn giá tiền lương bên cạnh đó thực hiện quản lý tốt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật. Do vậy mà chỉ trong thời gian ngắn, Xí nghiệp không chỉ nâng sản lượng lên gấp 2, 3 lần giai đoạn trước mà chất lượng than luôn bảo đảm, phù hợp kết quả khảo sát vỉa và chỉ tiêu phẩm cấp của Công ty, Tập đoàn giao. Hiện tại, tỷ lệ than cám 3 đạt khoảng trên 30%, còn lại chủ yếu là than cám số 4, 5, 6, tỷ lệ thu hồi đạt 92%... Tính trung bình, mỗi ngày đơn vị khai thác 6.000-7.000 tấn than, quý I vừa qua Xí nghiệp khai thác được trên 445.000 tấn than nguyên khai, bóc xúc 1,73 triệu m3 đất đá, doanh thu đạt 281,7 tỷ đồng, lương bình quân của người lao động đạt 5,81 triệu đồng/người tháng. Trong quý II này chúng tôi phấn đấu khai thác 500.000 tấn than nguyên khai, bóc xúc 3 triệu m3 đất đá, giữ vững an toàn và tiếp tục làm tốt công tác sản xuất than chất lượng cũng như phòng chống mưa bão. Từ nay tới 2015, Xí nghiệp duy trì sản lượng 1,3 đến 1,5 triệu tấn than/năm đồng thời tích cực chuẩn bị điều kiện về nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp trong khai thác lộ thiên phấn đấu trở thành một đơn vị khai thác thi công cơ giới mạnh, đủ năng lực cạnh tranh trong đấu thầu khai thác mỏ”.
Chú trọng đào tạo và nâng cao đời sống cho người lao động
Song song với sản xuất, công tác đào tạo và chăm lo đời sống CBCN cũng được Xí nghiệp làm tốt. Xí nghiệp thường xuyên cử CBCN đi học tập tiếp thu công nghệ mới, nâng cao tay nghề ở các cơ sở đào tạo có uy tín và các đơn vị bạn. Đến nay đội ngũ CBCN-LĐ của Xí nghiệp đã có 611 người, trong đó 103 người có trình độ đại học; 10 phòng ban chuyên môn và 5 công trường phân xưởng. Xí nghiệp còn thường xuyên duy trì, phát triển phong trào văn hoá, văn nghệ, thể thao ở khắp các phòng ban, công trường; lắp đặt hệ thống truyền thanh nội bộ để thông tin, tuyên truyền, giúp cán bộ, công nhân viên hiểu rõ về chế độ chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, các nội quy của đơn vị... Một trong những mặt công tác mà Xí nghiệp Than 917 luôn được đánh giá cao là hoạt động xã hội, từ thiện. Trong 3 năm qua, cán bộ, công nhân viên nơi đây đã quyên góp hơn 300 triệu đồng để tham gia cùng địa phương, nơi đơn vị đứng chân tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, thể thao, ủng hộ giúp đỡ các gia đình nghèo, nạn nhân chất độc da cam, học sinh nghèo vượt khó... Hoạt động của hệ thống tổ chức Đảng, đoàn thể trong đơn vị cũng được đẩy mạnh. Đảng bộ Xí nghiệp liên tục được công nhận Trong sạch vững mạnh; nhiều tập thể, cá nhân được Đảng bộ Công ty Than Hòn Gai và Đảng bộ Than Quảng Ninh biểu dương khen thưởng.
Trong 30 năm qua, với tinh thần đồng tâm, đoàn kết và sự cố gắng nỗ lực của tập thể CBCNV trong toàn đơn vị, Xí nghiệp Than 917 đã luôn khẳng định được vị thế của mình được các cấp, ngành tặng nhiều phần thưởng cao quý.