Không bi quan trước những con số

Mức tăng trưởng GDP đạt thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây khi không vượt qua được 2 con số để đảm bảo cán đích tăng trưởng trên 13% GDP của năm 2012 có thể sẽ ảnh hưởng đến tâm lý thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng còn lại của năm của các cấp, ngành, đơn vị, địa phương trong tỉnh. Tuy nhiên, cũng theo phân tích của các chuyên gia thì đây là quy luật khách quan, phản ánh bước phát triển tất yếu của bất kỳ một nền kinh tế nào khi thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. 

Dù khó khăn nhưng các doanh nghiệp FDI trong KCN Cái Lân vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng. Trong ảnh: Sản xuất tại Công ty Vina Newtap.

Dù khó khăn nhưng các doanh nghiệp FDI trong KCN Cái Lân vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng. Trong ảnh: Sản xuất vải bạt tại Công ty Vina Newtap.

Khó trong cái chung

“Nhiều khả năng kinh tế thế giới năm 2012 chưa thể phục hồi mạnh trở lại” - đúng như dự báo của các nhà kinh tế Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), trong bối cảnh tình hình trong nước, thế giới còn rất nhiều khó khăn, kinh tế tiếp tục suy giảm sâu đã tác động mạnh đến các nền kinh tế trong quy mô nhỏ cấp tỉnh như Quảng Ninh.

Mục tiêu tăng trưởng GDP được Quốc hội đề ra cho năm 2012 là tăng 6-6,5% so với năm 2011, tuy nhiên hết tháng 6 dự kiến chỉ đạt 4,31% (giảm 2,19% so với kế hoạch). Các địa phương trong Vùng Kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc, các tỉnh lân cận mức tăng GDP cũng giảm mạnh so với kế hoạch như: Hà Nội ước tăng 7,6% so với cùng kỳ, giảm 4,4 điểm % so với kế hoạch; Hải Phòng tăng 6,81%, giảm 5,69 điểm % so với kế hoạch; Hải Dương tăng 4,9%, giảm 7,1 điểm %; Vĩnh Phúc tăng 4,61%, giảm 7,39 điểm %... Trong bối cảnh khó khăn chung này với tỉnh mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đang có độ mở cao như Quảng Ninh không thể nằm ngoài vòng xoáy đó. Vì vậy theo báo cáo đánh giá của Sở Kế hoạch và Đầu tư tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm ước đạt 7,1%, giảm 5,4 điểm % so với kế hoạch đề ra, trong đó: Giá trị tăng thêm của các ngành: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,8% (cùng kỳ tăng 3,9%); ngành công nghiệp và xây dựng tăng 4% (cùng kỳ tăng 11,5%); ngành dịch vụ (giá so sánh 1994) tăng 12,1% (cùng kỳ tăng 12%). Ngoài nguyên nhân do kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến theo chiều hướng xấu, thị trường bị thu hẹp, trong khi đó kinh tế Quảng Ninh có độ mở cao, đã tác động đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là sản xuất công nghiệp của ngành Than, xây dựng và các doanh nghiệp xuất khẩu. Chỉ tính riêng ngành Than do nhu cầu nhập khẩu than của nước ngoài giảm, các hộ tiêu dùng than trong nước như: Điện, xi măng, giấy, phân bón và hoá chất cũng giảm mạnh vì sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chậm và khó khăn hơn nhiều so với cùng kỳ nên trong 6 tháng đầu năm sản lượng than sạch sản xuất giảm 2,2%; sản lượng xuất khẩu giảm 8,3%; sản lượng tiêu thụ trong nước giảm, lượng than tồn kho của ngành là 8,5 triệu tấn (cao nhất từ trước tới nay).

Cộng với sự tác động của các chính sách vĩ mô như: Việc tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá thắt chặt, chính sách tiền tệ chặt chẽ đã góp phần kiềm chế lạm phát, nhưng cũng làm cho doanh nghiệp khó khăn, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Lãi suất cho vay của các Ngân hàng mặc dù đã được điều chỉnh giảm nhưng các doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn, theo đó nhu cầu đầu tư và tiêu dùng có xu hướng giảm mạnh. Mặc dù Chính phủ đã chỉ đạo về lộ trình tăng giá than cho các hộ sản xuất lớn trong nước như điện, xi măng... tuy nhiên đến nay chưa điều chỉnh tăng giá bán than cho ngành Than, làm cho ngành Than vẫn phải tiếp tục bù đắp các khoản thiếu hụt do bán than trong nước ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngành Than. Các hoạt động thương mại qua biên giới chủ yếu phụ thuộc vào chính sách biên mậu từ nước bạn, do đó thiếu tính ổn định và bền vững; các hoạt động xuất khẩu của tỉnh chủ yếu là các sản phẩm thuộc lĩnh vực nông lâm, thuỷ sản (trừ than) do đó, số thuế xuất nhập khẩu trên địa bàn chủ yếu phụ thuộc vào các mặt hàng nhập khẩu.

Gỡ trong cái riêng

Trước bối cảnh kinh tế khó khăn, ngay từ những tháng đầu năm UBND tỉnh đã chủ động chỉ đạo và thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp như đối thoại trực tiếp; thành lập 4 đoàn công tác để tìm hiểu và xác định các biện pháp hỗ trợ kịp thời như giãn, hoãn, miễn giảm thuế theo chỉ đạo của Trung ương… 2 giải pháp tài chính quan trọng nhất đã được quyết định thực hiện để giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường, đó là UBND tỉnh đã quyết định điều chỉnh giá thuê đất, mặt nước xuống mức thấp nhất trong khung giá Chính phủ cho phép. Để lại nguồn lực 380 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất. Và gia hạn 9 tháng thời gian nộp tiền sử dụng đất cho các dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng đô thị trên địa bàn. Bằng 2 giải pháp quan trọng này Quảng Ninh đã là địa phương đi đầu trong cả nước thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bằng biện pháp cụ thể, thiết thực và thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó hàng loạt các khó khăn về thủ tục hành chính, mặt bằng, cơ chế chính sách liên quan đến phát triển sản xuất đều được tập trung tháo gỡ kịp thời. Hiện tỉnh đang nghiên cứu, xem xét hỗ trợ về lãi suất vốn vay cho các doanh nghiệp sản xuất trực tiếp, nhất là các doanh nghiệp có sử dụng nguồn lao động lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp.

Khi mà nền kinh tế thế giới vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục sau khủng hoảng, nhiều chuyên gia kinh tế đã đưa ra nhận định về sự “co cụm” nguồn vốn hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài thì Quảng Ninh mạnh dạn tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư 2012 lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn với quy mô quốc gia, tầm quốc tế. Và mục tiêu tranh thủ, kêu gọi ngoại lực từ sau Hội nghị này đã phát huy hiệu quả, khi chỉ trong thời gian ngắn tỉnh đã đón và làm việc với nhiều đoàn các nhà đầu tư từ nhiều quốc gia Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Đông Âu, Trung Đông... đến tìm hiểu đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ, cảng hàng không, công nghiệp, y tế, giáo dục, môi trường, hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp tại các khu kinh tế Vân Đồn, Móng Cái, Hải Hà, Hạ Long, Quảng Yên... Kết quả trong 6 tháng đầu năm Quảng Ninh đã cấp mới 4 Giấy chứng nhận đầu tư FDI với tổng vốn đầu tư 390,939 triệu USD. Thu hút vốn FDI đã tăng cao so với cả năm 2011 về số dự án và tổng vốn đăng ký, tổng vốn thu hút các dự án cấp mới cao gấp nhiều lần (4/3 dự án; 390,939/26,4 triệu USD=14,8 lần). Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 93 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 4,1 tỷ USD.

Song song với việc đẩy mạnh xúc tiến, kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh cũng tích cực, chủ động đề nghị với Trung ương cho áp dụng những cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút và đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư, đặc biệt đối với một số dự án hạ tầng quan trọng: đường nối TP Hạ Long với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường dẫn và cầu Bắc Luân II, dự án xây dựng sân bay quốc tế Vân Đồn, dự án bảo vệ môi trường TP Hạ Long; dự án đưa điện lưới ra đảo Cô Tô... bằng các hình thức đầu tư BOT, BT, ODA.

Nhìn lại bức tranh tổng thể kinh tế - xã hội trong 6 tháng qua của tỉnh thấy rằng dù con số tăng trưởng GDP ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua nhưng so với mặt bằng chung của cả nước đã thể hiện sự cố gắng lớn của tỉnh, góp phần thực hiện mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện đảm bảo các chính sách xã hội. Vì vậy dù trong tình hình khó khăn chung của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước việc kiên định thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội càng cần phải thực hiện quyết liệt hơn bằng sự vào cuộc từ những giải pháp hết sức cụ thể, hiệu quả của toàn tỉnh.

Những con số lạc quan

* Trên 4,2 triệu lượt khách du lịch đã đến Quảng Ninh trong 6 tháng đầu năm, tăng 12% so với cùng kỳ, trong đó: khách quốc tế đạt 1,283 triệu lượt, tăng 8% cùng kỳ; khách lưu trú ước đạt 1,358 triệu lượt, tăng 21% cùng kỳ. Khách thăm di tích lịch sử văn hoá đạt 2,058 triệu lượt, tăng 21% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu du lịch 6 tháng ước đạt 2.225 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ.

* 4 lần hạ lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay bằng VND. Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về nguồn vốn, trong 6 tháng Ngân hàng Nhà nước đã 4 lần hạ lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay bằng VND. Hiện nay bình quân lãi suất cho vay của các ngân hàng xoay quanh mức 14 - 16%/năm, riêng cho vay đối với các lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn; sản xuất kinh doanh xuất khẩu; các doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển công nghiệp hỗ trợ mức lãi suất cho vay ngắn hạn cao nhất tại các ngân hàng không quá 13%/năm. Vì vậy tổng dư nợ vốn tín dụng 6 tháng 53.000 tỷ đồng, tăng 3,3% so với 31-12-2011.

* Gần 2.000 tỷ đồng huy động cho xây dựng nông thôn mới, trong đó: ngân sách tỉnh 500 tỷ đồng; nguồn vốn lồng ghép 246,5 tỷ đồng; vốn tín dụng 1.244 tỷ đồng. Đến nay, 125/125 xã đã lập, thẩm định phê duyệt xong đề án nông thôn mới cấp xã; có 12/13 địa phương lập xong Đề án xây dựng nông thôn mới cấp huyện; 125/125 xã đã xây dựng xong quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Tỉnh đã ban hành một số cơ chế, chính sách phục vụ phát triển sản xuất giai đoạn 2012-2015; các chương trình, dự án về hỗ trợ sản xuất, ứng dụng KHCN và đầu tư phát triển các mô hình sản xuất tập trung đang được các địa phương tích cực triển khai.

* 4 dự án FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, gồm: Dự án Khu đô thị Lam Ngọc - Tuần Châu vốn đăng ký 43 triệu USD; Dự án Nhà máy xay mỳ tại KCN Cái Lân mở rộng 47,439 triệu USD; Dự án Nhà máy sợi Texhong tại KCN Hải Yên 300 triệu USD; Dự án cơ sở phân phối thực phẩm chức năng Potomac tại TP Hạ Long 500.000 USD. Những dự án này đã góp phần tăng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh trong 6 tháng cao hơn 14,8 lần so với năm 2011.

* 162 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng (GTGT) được gia hạn: Thực hiện việc miễn, giảm, gia hạn một số khoản thu ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết 13 của Chính phủ, qua rà soát đối chiếu của ngành Thuế, Tài chính thì thuế GTGT số được gia hạn ước 162 tỷ đồng (riêng thuế GTGT phát sinh tháng 4-2012 là 69,5 tỷ đồng). Ngoài ra tiền thuê đất được giảm 50% ước 67 tỷ đồng; thuế môn bài đối với hộ kinh doanh đánh bắt hải sản 967 triệu đồng. Việc xét, giải quyết hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp kịp thời, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, góp phần tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Ngọc Lan

Cùng chuyên mục