Làng Yên Đông - Vùng đất “văn vật” xưa

Ngày xuân về thăm làng Yên Đông, mới đến đầu làng, thấy dưới bóng đa thấp thoáng mảnh đao đình cùng tiếng chuông chùa ngân nga, chúng tôi như bước vào một vùng quê đượm màu cổ tích và cảm thấy lòng thêm thư thái...

Làng Yên Đông - Vùng đất “văn vật” xưa ảnh 1
Toàn cảnh đình Yên Đông (phục dựng lại năm 2003).

Trên sân đình Yên Đông, nhìn ra phía cửa sông Bạch Đằng, ông Nguyễn Quang Dự, một trong những người được dân làng khen là rất chí thiết trong việc tu tạo các công trình văn hoá cổ, không giấu nổi niềm vui khi kể với chúng tôi:

Mấy năm nay, Yên Đông diễn ra nhiều sự kiện trong đời sống văn hoá làng xã làm phong phú thêm bộ mặt nông thôn. Đó là việc hoàn thành công trình phục dựng ngôi đình, tu tạo chùa Pháp Âm, miếu Tứ Xã và quần thể các nhà thờ họ. Nhân dân rất phấn khởi. Năm 2002, có 5 nhà thờ họ (trong số 21 nhà thờ họ của Hà Nam) ở Yên Đông được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia... Uống nước nhớ nguồn, dòng họ nào cũng chú trọng tu sửa, nâng cấp từ đường, sắm thêm đồ thờ cúng, soạn thảo lại tộc phả, ghi bia công đức v.v... Với cư dân Yên Đông và cả vùng làng đảo này, dù điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhưng nhà ở có thể chịu tuềnh toàng, chứ nhà thờ họ thì hầu như không bao giờ để dột nát, xiêu đổ!

Thực ra, nói đến các di tích của làng Yên Đông, phải nói tới đình Đông. Ngôi đình Yên Đông cổ cất dựng năm 1814, là một trong hai ngôi đình cổ lớn nhất, đẹp nhất vùng Yên Hưng, cả về kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc, đã được Viện Viễn Đông Bác cổ - một cơ quan nghiên cứu lịch sử và văn hoá do người Pháp sáng lập ở Hà Nội đầu thế kỷ 20, liệt vào hạng đặc biệt quan tâm. Do thiên tai và giặc giã, và do cả một thời nhận thức lệch lạc về vốn văn hoá cổ, dẫn đến sự sao nhãng của con người, ngôi đình đã xuống cấp, tàn tạ. Cho đến khoảng đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, công trình kiến trúc tuyệt tác này chỉ còn là đống gạch ngói, gỗ ván phế liệu...

Năm 2003, với ý chí và thành tâm của người Yên Đông sinh sống trên đất làng, ở các nơi xa trong và ngoài nước, ngôi đình mới đã được cất dựng uy nghi trong niềm vui vô hạn. Một số phiến đá lớn còn lại của đình cũ qua một thời “trơ gan cùng tuế nguyệt'', được đưa về kè bậc tam cấp hiên đình mới; gỗ lim được mua từ vùng núi Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), thợ khéo thì kén từ các địa phương có truyền thống kiến trúc đình chùa ở Hà Tây, Nam Định v.v... về. Dân làng còn giữ được 4 đạo sắc của các triều vua phong thần cho Thành hoàng làng là Uy Minh Đại Vương. Ngoài sắc phong đời vua Gia Long năm 1810 (bản chép lại), còn có hai sắc đời vua Tự Đức năm 1857 và 1871, với một sắc đời vua Duy Tân năm 1908. Mỗi lần ra thăm ngôi đình hiện tại, nhìn lên bức ảnh đình Yên Đông cổ phóng lớn treo trên tường nhà khách, người ta không khỏi bồi hồi xúc động như thấy hồn làng Việt cổ, hồn người xưa trong đó. Và những tích chuyện, những “điển cố làng'', những mảnh đời đậm tính giáo huấn được lưu truyền... Gần nửa thế kỷ trôi qua đã quá đủ để người Yên Đông cảm nhận và thấm thía nỗi mất mát của việc để cháy mất ngôi đình cổ kính có một không hai ở vùng cửa biển này.

Từ xưa Yên Đông đã là “đất học'' nổi tiếng ở Hà Nam - Yên Hưng. Văn chỉ làng Yên Đông dựng năm Bảo Thái thứ 2 (1721) là văn chỉ đầu tiên trong vùng; đến năm Tự Đức thứ 27 (1874) tạc bia ghi tên những người đỗ đạt trong làng. Và Yên Đông cũng là làng đầu tiên ra lệ khuyến học, khuyến tài. Dân làng trọng học trọng tài đến nỗi làng có việc ngoài chốn đình chung, bao giờ cũng xếp các vị cử nhân ngồi ngang hàng cùng chiếu với các bậc bô lão. Theo thống kê, từ 1960 đến nay, làng Yên Đông có tới 200 cử nhân, trong đó có 2 tiến sĩ ở nước ngoài...

Phía bắc bìa làng hiện nay còn giữ lại một hồ nước gọi là Hồ Mạch. Đó là di tích hồ nước ngọt đầu tiên khi 17 vị Tiên Công từ kinh thành Thăng Long đến đây phát hiện ra nhờ tiếng ếch kêu trong một đêm mưa giữa rừng sú vẹt âm u trên cửa sông Bạch Đằng hồi giữa thế kỷ 15. Khoảnh ruộng “Bách mẫu'' xung quanh Hồ Mạch là tài sản đất đai đầu tiên của vùng Hà Nam hình thành ở Yên Đông. Qua 6 thế kỷ, vùng đất này đã phát triển thành làng đảo hiện tại với 8 xã, hơn 5 vạn dân phía nam huyện Yên Hưng.

Vào các khu xóm, trên lối ngõ rải bê tông, đây đó vẫn còn những rặng tre xanh rủ bóng, chúng tôi thấy bên cạnh những toà nhà cao tầng đồ sộ, dân Yên Đông còn giữ được hàng chục ngôi nhà gỗ lim cổ, có ngôi từ 100-150 năm. Gian giữa các ngôi nhà bày biện đại tự câu đối, đồ cúng lễ, phẩm vật, hoa quả, cỗ bàn... trông rất sinh động, ấm cúng. Ngôi nhà gỗ của gia đình anh Nguyễn Tiến Đông (xóm Bến Bị) đã 6 đời nối dõi và còn giữ được một bản sắc phong của vua Duy Tân năm 1910. Nhiều gia đình vẫn giữ lại phong cách chơi nhà cổ: nâng cao tảng, cột, tu sửa lại mái coi như kỷ vật của cha ông. Việc làm này cần được các cấp chính quyền và cơ quan quản lý văn hoá, bảo tồn bảo tàng khuyến khích giúp đỡ. Nếu không sẽ nhanh chóng mai một đi những vốn cổ dân gian, bởi vì bên cạnh đó, do nhu cầu cuộc sống hiện đại, nhiều người dân vẫn sẵn sàng tháo dỡ nhà cổ, thay vào đó là những ngôi nhà cao tầng. Và cứ tình trạng “làng hoá phố'' ấy, liệu rồi việc bảo tồn vốn cổ ở vùng đất cổ sẽ ra sao?...

Cùng chuyên mục