Lập quy hoạch bảo vệ môi trường ở các vùng khai thác than: Vẫn là bài toán khó

Quảng Ninh có nhiều loại khoáng sản trong đó than đá chiếm 90% trữ lượng cả nước. Trong những năm qua, nhất là từ năm 2003 đến nay, công nghiệp khai khoáng trên địa bàn tỉnh có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là khai thác than đã góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản cũng gây nên nhiều tác động tiêu cực tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân và sự phát triển của các ngành kinh tế khác.

Lập quy hoạch bảo vệ môi trường ở các vùng khai thác than: Vẫn là bài toán khó ảnh 1
Hệ thống bể lọc xử lý nước thải mỏ thành nước sinh hoạt của Công ty CP Than Hà Lầm.

Mặc dù tỉnh và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã triển khai nhiều giải pháp quản lý bảo vệ môi trường (BVMT) như không vận chuyển than trên quốc lộ 18, quy hoạch, sắp xếp lại các cảng, bến cảng đã hạn chế được ô nhiễm môi trường trong vận chuyển than đến khu dân cư tập trung. Tuy nhiên, theo kết quả quan trắc môi trường tình trạng ô nhiễm bụi do hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển than vẫn còn tồn tại. Theo số liệu kê khai, nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp của các đơn vị thuộc ngành Than thì tổng lượng nước thải mỏ năm 2009 là 38.914.075m3. Tuy nhiên, lượng nước thải này chưa tính đến nước rửa trôi từ các bãi thải mỏ. Hai thông số điển hình tác động đến môi trường là tính axit và cặn lơ lửng. Đặc biệt, độ pH của nước thải mỏ dao động từ 3,1-6,5, hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7-2,4 lần, cá biệt có nơi vượt đến 8,09 lần. Nước thải mỏ gây ảnh hưởng đến hệ thống sông, suối, hồ, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn sinh thuỷ, suy giảm chất lượng nước... Do tác động lâu ngày, trong đó có tác động của khai thác than trái phép trong một thời gian dài, một số hồ thuỷ lợi vùng Đông Triều đã bị chua hoá, làm ảnh hưởng đến chất lượng nước phục vụ nông nghiệp. Hiện nay, TKV đang đầu tư 32 dự án xây dựng trạm xử lý nước thải mỏ đảm bảo đạt tiêu chuẩn cho phép, hiện đã có 10 dự án xây dựng xong với tổng lưu lượng xử lý lớn nhất là 2.370m3/giờ, các mỏ còn lại mới chỉ lắng sơ bộ và xả trực tiếp ra môi trường. Không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân mà những tác động của hoạt động khai thác than còn làm biến đổi địa hình và cảnh quan. Những biến đổi mạnh nhất diễn ra chủ yếu ở khu vực có khai thác than lộ thiên. Các bãi đổ thải tạo nên những đồi cao như Cọc Sáu (280m), Nam Đèo Nai (200m), Đông Cao Sơn (250m), Đông Bắc Bàng Nâu (150m) và Núi Béo (240m)... và nhiều bãi thải trên các sườn đồi. Bãi thải thường có sườn dốc tới 35 độ; nhiều moong khai thác lộ thiên có độ sâu -50 mét đến -150 mét dưới mực nước biển trung bình (các mỏ Cọc Sáu, Hà Tu, Núi Béo...). Hiện tại TKV vẫn chưa lập được quy hoạch bảo vệ môi trường các vùng khai thác than do quy hoạch phát triển ngành Than đến năm 2015 tầm nhìn đến 2025 chưa được phê duyệt.

Trước những tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường, TKV cần đôn đốc các đơn vị khai thác than khẩn trương hoàn thành nội dung và thực hiện nghiêm túc nội dung các giấy phép khai thác than. Bên cạnh đó, triển khai xây dựng các công trình BVMT và thực hiện đúng nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt. Chú trọng xử lý các nguồn nước thải có ảnh hưởng trực tiếp tới Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và hệ thống các sông, suối; lập quy hoạch bãi đổ thải và triển khai các dự án cải tạo bãi thải; thường xuyên nạo vét, cải tạo các sông, suối chịu ảnh hưởng của khai thác than. Đồng thời, tăng cường đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động sản xuất, đặc biệt là các tuyến đường liên quan đến dân sinh; thực hiện nghiêm túc quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nói chung và dự án đầu tư công trình khai thác mỏ nói riêng.

Cùng chuyên mục