Lựa chọn và phát huy thế mạnh của từng địa phương

Với những lợi thế về tài nguyên khoáng sản và vùng nguyên liệu dồi dào, các huyện biên giới, hải đảo trên địa bàn Quảng Ninh đang được coi là mảnh đất “màu mỡ” để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN).

Tuy nhiên, vấn đề là phải biết lựa chọn và phát huy thế mạnh của từng địa phương, từng ngành nghề để có hướng đầu tư thích hợp.

Lựa chọn và phát huy thế mạnh của từng địa phương ảnh 1
Một góc Nhà máy sản xuất gạch tuynel lò đứng của Công ty Xây dựng 319 tại huyện Bình Liêu.

Từ chủ trương và các giải pháp

Sau khi, Bộ Công Thương có quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển CN-TTCN tuyến biên giới Việt - Trung với tầm nhìn đến năm 2020, tỉnh đã chỉ đạo Sở Công Thương xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển CN-TTCN vùng cao, biên giới, hải đảo giai đoạn 2005-2015, tầm nhìn 2020 và Quy hoạch phát triển làng nghề - TTCN Quảng Ninh giai đoạn 2006-2015, tầm nhìn 2020. Trong đó xác định tập trung đầu tư phát triển những ngành công nghiệp lợi thế như: Khai thác và chế biến khoáng sản quy mô vừa và nhỏ; chế biến nông - lâm sản; vật liệu xây dựng; thuỷ điện nhỏ; phân bón; hoá chất và cơ khí sửa chữa; ưu tiên thu hút đầu tư vào chế biến, gia công xuất khẩu, sản xuất bao bì và đóng gói xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Chú trọng phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống có sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu tại địa phương như dệt, mây tre đan, chạm khắc gỗ, mộc dân dụng. Đồng thời tập trung kêu gọi và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp miền núi, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước (dự kiến huy động vốn của các doanh nghiệp quốc doanh sẽ chiếm 60-65%, khu vực dân doanh 10-15%, khu vực đầu tư nước ngoài 20-25%).

Để thu hút được vốn đầu tư phát triển CN-TTCN trên vùng cao, biên giới, hải đảo, tỉnh cũng đã xác định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo thúc đẩy tạo môi trường thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế. Vốn ngân sách Nhà nước (kể cả Trung ương và địa phương) tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng: Giao thông, điện, bưu chính viễn thông, y tế, trường học. Bên cạnh đó, tỉnh sẽ tập trung thực hiện thành công các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. Tổ chức thực hiện các dự án ở những vùng khó khăn nhất, lồng ghép các chương trình dự án trên cùng một địa bàn. Tạo điều kiện tối đa cho nhân dân được hưởng lợi, cùng tham gia vào quá trình lập và thực hiện kế hoạch triển khai các công việc theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi. Xây dựng một số cụm cơ sở CN-TTCN quan trọng làm trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản để giải quyết việc làm và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

Diện mạo đang dần thay đổi

Vì vậy, trong những năm qua, 9 huyện, thành phố vùng cao, biên giới, hải đảo của tỉnh, CN-TTCN đã những bước tiến khả quan hơn. Điển hình là TP Móng Cái, hiện có khoảng 350 cơ sở sản xuất CN-TTCN; 2.604 hộ kinh doanh dịch vụ đa ngành nghề, trong đó có 660 hộ người Trung Quốc; 21 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 169,8 triệu USD, trong đó lĩnh vực công nghiệp có 9 dự án với vốn đầu tư trên 13 triệu USD; 1 khu công nghiệp; 2 cụm công nghiệp. Những địa phương được coi là phát triển kém nhất đối với lĩnh vực này là huyện Cô Tô hiện cũng có khoảng 30 cơ sở sản xuất công nghiệp; Vân Đồn có 45 cơ sở; Tiên Yên có 147 cơ sở…

Nhiều dự án hoạt động tại khu vực này cũng đang trở thành tâm điểm cho sự phát triển CN-TTCN của vùng miền. Ví như ở huyện Bình Liêu, năm 2006, đơn vị 359 thuộc Công ty Xây dựng 319 - Quân khu 3 đã đầu tư nhiều tỷ đồng cho dây chuyền sản xuất gạch tuynel lò đứng liên hoàn với công suất 4 triệu viên/năm trên diện tích 2.000m2 tại thôn Pặc Pò, xã Đồng Tâm. Hiện Nhà máy đã đi vào sản xuất ổn định với doanh thu khoảng 3 tỷ đồng/ năm và đảm bảo việc làm ban đầu cho 30 lao động người dân tộc thiểu số. Hay dự án Trại nuôi trai cấy ngọc của Công ty TNHH Taiheiyo Shinju Việt Nam tại huyện Vân Đồn với giá trị đầu tư khoảng 11 tỉ đồng trên tổng diện tích 6.500m2 và dự án mở rộng nuôi trồng ra các điểm mới tại vùng biển thuộc huyện Vân Đồn, phát triển dự án nuôi trai cấy ngọc tại huyện Cô Tô. Đặc biệt thời gian qua, Công ty đã được UBND tỉnh giao đất cho thực hiện dự án nuôi trai cấy ngọc tại huyện Cô Tô, với tổng số vốn đầu tư giai đoạn đầu là 1 triệu đô la Mỹ.

Khó khăn vẫn đang trước mắt

Mặc dù các xã vùng cao, biên giới, hải đảo đã được tỉnh quan tâm đầu tư hạ tầng, vốn, giống, khoa học, giáo dục, y tế và được hưởng ưu đãi theo các Quyết định: 53, 120, 134, 135 nhưng tiềm năng các vùng này vẫn chưa được đánh thức. Tốc độ phát triển tương quan giữa các vùng, miền không đồng đều, tạo ra sự chênh lệch giữa các vùng, các xã trong huyện và giữa các huyện trong tỉnh. Điều đó làm cho quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn ở các huyện có xã thuộc vùng cao, biên giới, hải đảo chậm, không hiệu quả. Cơ sở vật chất ngành CN-TTCN ở các vùng cao này còn rất yếu và thiếu, vì thế sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp kém so với các vùng khác. Do đó phát triển CN-TTCN khu vực biên giới hải đảo vẫn là một ẩn số.

Cùng chuyên mục