Một thời chống mỹ: Ngang trời đạn bom

Tôi dọn nhà mới, đến ở chung  khu phố toàn thợ tuyển than Hòn Gai xưa. Ông bà lớn tuổi, có người biết, người không biết mình. Nhưng cánh thợ trẻ thì hầu như không người nào vương tỏ. Bác là ai, sao bác tường tận lịch sử Công ty chúng cháu thế? Bấy giờ bác làm ở đâu, phân xưởng nào, hay tít văn phòng xí nghiệp. Tôi lặng lẽ cười chào, giá kể chúng cũng mảy may lắc đầu. Chúng trẻ măng, hăm tám, ba mươi tuổi, ngày Hòn Gai bị đánh phá, chúng chưa chào đời kia mà!

Tự vệ Xí nghiệp Bến - Hòn Gai đánh trả máy bay Mỹ.

Tự vệ Xí nghiệp Bến - Hòn Gai đánh trả máy bay Mỹ.

Cái ngày ấy, đúng là ngang trời đạn bom. Hòn Gai bị hủy diệt liên miên, bom nổ chát chúa, đinh tai nhức óc. Dọc phố chính, vệt bom đánh sập suốt từ khu bưu điện tới tận bến phà. Tất cả dân cũ đi sơ tán hết, vào rừng sâu, chui hầm đá lớn nhỏ. Đường sá vắng ngắt người qua lại, lấp ló lá nguỵ trang súng ống dọc các đồi trực chiến. Từ rừng sâu Hoành Bồ, Tổng Biên tập Báo Quảng Ninh quyết định tôi về thường trú tại chính Hòn Gai: “Cậu về đó, viết được gì cứ viết. Lúc này cây bút cũng là vũ khí. Cố gắng chịu đựng, bom nó không chừa ai đâu”.

Tôi đạp xe về lại thị xã của tôi. Thị xã ngổn ngang gạch vụn, những điểm nhiều kỷ niệm với người viết giờ bị bom tiện đứt, nhiều chỗ phải vác xe dò đường. Lên giữa núi Bài Thơ, trong một hang động khá lớn, cửa hang che kín hàng cây dại, tôi xuất trình thẻ phóng viên, xin được ở nhờ. Đó là nơi bám trụ của ban chỉ huy phòng không thị xã, hằng ngày dân quân tự vệ, bộ đội qua lại họp rút kinh nghiệm từng trận đánh. May quá, thế là có chỗ trú chân, có nơi tiếp giáp tài liệu. Từ giữa núi có thể nhìn thấu Hòn Gai, có thể đếm từng quả bom giặc thả, có thể chứng kiến từng khẩu pháo trận địa mình phát hỏa. Ngoắt phía phải là khu đồi vi ba của bưu điện, đêm ngày phát tin về tổng đài. Dưới chân núi là khu hang số 6, một cái hang xuyên qua lòng núi đá, thành trạm cứu thương trực chiến của bệnh viện. Bác sĩ Nguyễn Thế Huấn trực ban ở đây. Anh vốn bác sĩ thần kinh, giờ thiếu người ở khoa ngoại, anh đảm nhận tất. Anh bảo: “Nhà báo hãy chịu khó sống với bọn mình, nhiều chuyện đáng viết lắm!”. Anh chỉ vào cái xô nhựa để chật những chân người, tay người vừa cưa xong, máu còn loang lổ. Tôi bảo anh hãy vững tâm trụ chốn này, trên các đỉnh đồi cao kia, nhiều trận địa vẫn đêm ngày nổ súng. Chúng ta rồi sẽ ối việc phải làm.

Một buổi trưa, trong hang chỉ huy Thị đội, tôi gặp một đại đội trưởng pháo tự vệ. Anh hơn ba chục tuổi, mặt mũi sáng sủa, cằm lấm chấm râu. Anh ôm lấy tôi: “Rất mừng gặp nhà báo ở đây. Trận địa chúng mình vừa qua bốn trận trong ngày. Đang lên cấp trên xin tiếp viện thêm đạn. Mình là Đặng Há Hát, công nhân Xí nghiệp bến”. Từ ấy tôi quen anh, thân với anh. Hát thoắt đến, thoắt đi. Các khẩu pháo 37 ly trên đỉnh đồi bến phà liên tiếp khạc lửa. Nằm trong hầm pháo; ngắm nhìn các chiến sĩ cấp tập xoay nòng, ngắm lá cờ đỏ phất lia lịa trong tay đại đội trưởng tôi thấy mình bừng bừng theo. Trong khói bom dày đặc, Hát đứng thẳng, miệng đĩnh đạc hô “Bắn”. Hát đấy, con người quê Hải Dương tôi đấy, nóng tính nhưng can đảm. Anh khoe vợ vừa được tăng bậc lương, cũng buồn vì chiều qua mới tát vợ một cái: “Biết mình sai, thượng cẳng chân hạ cẳng tay thì hay hớm nỗi gì”. Tôi lựa lời, đàn ông cánh mình ấy mà, chưa thấu hết nỗi hy sinh lặng thầm của các bà ở nhà. Chồng bát còn có khi xô, nữa vợ chồng. Hát đỏ mặt quay đi. Anh liếc về phía các cô tự vệ đang học tập thêm cắt tầm nạp đạn. Nhìn các cô thoăn thoắt thao tác, Hát hiểu mình chưa đúng cư xử với vợ con. Nóng tính quá hóa hỏng. Anh quay về hố pháo, miệng lại ồm ồm thông báo tin máy bay địch đến, phen này chúng quyết dập tan trận địa này, dập tan bến phà, huyết mạch của khu mỏ. Các khẩu pháo đồng loạt ngoắt nòng.

Trận đón đầu bọn cắn trộm Mỹ chiều ấy thật quyết liệt. Cả thị xã ngào ngạt khói bom xô, nhà cửa đổ rầm rầm, đường ray bị lật ngửa bên đường. Tiếng súng đánh trả trên đồi pháo gầm rung từng đợt. Thị đội trưởng nghe máy, lặng lẽ hẳn. Mọi người hỏi tại sao. Ông nói, đục trầm: “Đồi pháo bắn rụng một máy bay, bị thương một chiếc. Đặng Bá Hát của chúng ta hy sinh rồi!”. Cái tin sét đánh ấy đau nhói tim mọi người. Mới sáng Hát còn ầm ầm cười nói. Mới sáng Hát còn vui vẻ ăn bánh mì nắp hầm với chung quanh. Tôi vội lao lên đồi trực chiến. Các cô gái khóc lặng, kêu đơn vị đưa xác anh Hát đi rồi. Ta cũng bị thương mấy chiến sĩ nữa. Đất núi tung toé từng hố sâu. Ngay tối hôm ấy tôi thức suốt viết kịp tin chiến thắng gửi về báo. Trước linh hồn Hát, tôi nguyện viết về anh và đồng đội sâu hơn. Tôi viết “Đặng Bá Hát, chúng tôi nói về anh” đăng suốt hai trang khổ to của Báo Quảng Ninh. Cấp trên quyết định nêu cao tấm gương này. Tôi viết “Chói lọi tấm gương Đặng Bá Hát” thành xã luận. Rồi liên tiếp mười số báo sau, số nào cũng có bài bình về Đặng Bá Hát. Tôi lại quay lên trận địa, gặp các pháo thủ tự vệ. Ai cũng ngậm ngùi, cũng kêu to con người anh. Hội Văn nghệ Quảng Ninh đặt tôi viết một quyển sách. Tôi viết một mạch mấy đêm liền ở khu sơ tán Sơn Dương ký dài: “Khúc Hát Tên Anh”. Để đảm bảo kịp in phổ biến, Hội quyết định đăng toàn bộ vào tạp chí “Người Vùng mỏ”, không in sách nữa. Đấy là truyện ký được in dài nhất, hầu hết số trang của tạp chí, một lịch sử xuất bản của một tạp chí địa phương. Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục đưa tin bài về Đặng Bá Hát và đồng đội, một pháo đài thép của Vùng mỏ. Sau này, khi tiếng bom ngưng, hòa bình lập lại, tôi cũng đôi lần thăm lại trận địa pháo Đặng Bá Hát, được đại đội trưởng bổ sung Mai Đình Ngôn, nguyên Chính trị viên đại đội ân tình đưa thăm từng chỗ đứng, từng kỷ niệm của người anh đã đi xa. Tôi cũng nhiều lần tiếp gia đình Đặng Bá Hát mãi quê ra, tiếp vợ con anh với nhiều đề nghị chính sách cư xử vớingười còn lại. Tôi lại viết “Ngày giỗ Đặng Bá Hát” được tặng giải Nhất cuộc thi viết về thương binh liệt sĩ của tỉnh Quảng Ninh. Bài báo vừa quy tụ chiến công của Đặng Bá Hát, vừa được dịp nói sâu về những con người khác cùng đại đội chiến đấu với anh. Ngày ấy, Xí nghiệp mời tất cả tự vệ đồi Đặng Bá Hát, đồi được mang tên anh sau ngày Hát mất,đi tàu thăm Vịnh Hạ Long. Qua bến phà nhìn lên đỉnh đồi, mấy cô gái ríu rít chỉ trỏ: “Chúng em chiến đấu ở đấy, nhưng mới lần đầu được thăm Vịnh. Đẹp thật, Vịnh và đảo xuyên nhau, ngắm thật thích mắt”. Trong những con mắt mở to kia, tôi biết có con mắt Đặng Bá Hát gửi theo, con mắt đất mỏ một thời đầy trời bom đạn...

Cùng chuyên mục