Nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước

Trong những năm qua, công tác quản lý, điều hành chi ngân sách Nhà nước (NSNN) đã có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh. Hoạt động quản lý chi ngân sách đã góp phần giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế, phát huy được thế mạnh của địa phương, tạo đà cho sản xuất phát triển, giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo công bằng an sinh xã hội và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Hướng dẫn doanh nghiệp làm thủ tục hải quan tại Chi cục hải quan Cảng Cái Lân, Quảng Ninh. ảnh minh họa
Hướng dẫn doanh nghiệp làm thủ tục hải quan tại Chi cục hải quan Cảng Cái Lân, Quảng Ninh. ảnh minh họa
Từ năm 2007 đến năm 2010, tổng chi cân đối ngân sách địa phương (NSĐP) của Quảng Ninh là 26.891,7 tỷ đồng. Chi ngân sách hàng năm đều tăng, từ 4.649,8 tỷ đồng năm 2007 lên đến 10.579,7 tỷ đồng năm 2010, mức tăng bình quân là 31%/năm; trong đó, chi đầu tư phát triển tăng 151%, chi sự nghiệp kinh tế tăng 110%, chi giáo dục đào tạo tăng 181%. Cơ cấu chi đầu tư phát triển dần được cải thiện theo hướng tích cực; bình quân hàng năm chiếm khoảng 40% tổng chi cân đối NSĐP. Quảng Ninh đã quan tâm dành mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển (từ nguồn vượt thu ngân sách, vay vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước, vay vốn kiên cố hoá kênh mương...) để tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở, các tuyến đường, đê biển, kè biên giới, cảng biển, hạ tầng du lịch, giao thông nông thôn, đặc biệt là giao thông ở các vùng miền núi, vùng có nguyên liệu chế biến; đầu tư xây dựng khu công nghiệp Cái Lân, khu kinh tế Vân Đồn... Hàng năm chi thường xuyên đều được cân đối và bảo đảm mức chi hợp lý, bình quân chiếm khoảng 39% tổng chi cân đối NSĐP. Đảm bảo đủ nhu cầu về tăng lương, các chế độ của Nhà nước, mua sắm, sửa chữa, thực hiện các chính sách xã hội và phục vụ các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý chi ngân sách vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như định mức phân bổ ngân sách cho chi thường xuyên chưa được cụ thể hoá, còn mang tính chất định tính, chưa bám sát và phù hợp với tình hình thực tế; chưa xây dựng được dự toán chi ngân sách cho cả thời kỳ theo kế hoạch trung và dài hạn, nên chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; phương pháp lập dự toán và phân bổ dự toán hiện nay vẫn theo mức chi phí các yếu tố đầu vào mà không theo kết quả đầu ra. Việc lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán chi NSNN các cấp còn có sự đan xen, lồng ghép, làm mất tính chủ động của các cấp ngân sách; cơ cấu phân cấp chi ngân sách cho đầu tư phát triển trong một số lĩnh vực, dự án còn chưa hợp lý, tiến độ thực hiện và giải ngân của các dự án công trình nhìn chung còn chậm. Một số nhiệm vụ chi gắn trực tiếp với quản lý điều hành của cấp huyện nhưng chưa được phân cấp và cân đối trong dự toán giao đầu năm nên cấp huyện không chủ động được trong việc kế hoạch hoá và sắp xếp điều hành ngân sách...
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, cần nâng cao chất lượng công tác lập, quyết định và phân bổ dự toán ngân sách thường xuyên của các đơn vị thụ hưởng ngân sách, cơ quan tài chính, HĐND và UBND các cấp ở địa phương. Rà soát và hoàn thiện hệ thống các định mức phân bổ và định mức sử dụng ngân sách hiện hành. Thay đổi phương thức thực hiện, quản lý đối với một số khoản chi thường xuyên lớn, nhất là đối với khoản chi sự nghiệp kiến thiết kinh tế. Xây dựng kế hoạch đầu tư XDCB hàng năm phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng. Việc bố trí danh mục dự án chuẩn bị đầu tư, dự án quy hoạch, chuẩn bị thực hiện, thực hiện đầu tư phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện để được ghi vốn; tiếp tục cơ cấu chi NSĐP theo hướng tăng dần tỷ lệ tích luỹ cho đầu tư phát triển, trong đó chú trọng chi đầu tư cho các vùng kinh tế trọng điểm, quan tâm đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Chấn chỉnh và nâng cao chất lượng các đơn vị thực hiện công tác tư vấn trong tất cả các khâu: Lập dự án, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, lập thiết kế dự toán, thẩm định, giám sát kỹ thuật thi công. Nâng cao chất lượng thẩm định và phê duyệt dự án, nâng cao năng lực của các ban quản lý dự án và các chủ đầu tư. Chấp hành nghiêm Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu (như xét thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu); đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong cấp phát kinh phí từ NSNN, trong thủ tục đầu tư; cần ban hành quy trình giải quyết công việc của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp trong công tác thẩm định hồ sơ, báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công, công tác đấu thầu, chỉ định thầu, công tác kiểm soát thanh toán, công tác quyết toán. Thực hiện tốt công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân, công khai lấy ý kiến nhân dân về phương án đền bù, niêm yết công khai hồ sơ thủ tục đền bù, chính sách và giá cả đền bù. Nâng cao chất lượng và trách nhiệm của cơ quan KBNN trong công tác kiểm soát chi, đồng thời phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong công tác kiểm soát chi ngân sách, đảm bảo chặt chẽ nhưng không cứng nhắc. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra tài chính đối với việc quản lý, sử dụng NSNN, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản vì thanh tra, kiểm tra tài chính là chức năng thiết yếu của tài chính nhà nước, nên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý chi NSNN. Thực hiện nghiêm chế độ công khai tài chính ở các cấp, nhất là việc công khai trên lĩnh vực XDCB đối với các công trình có vận động nhân dân đóng góp ở các địa phương; tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám sát của các đoàn thể cũng như nhân dân trong việc thực hiện các công trình XDCB trên địa bàn.
Minh Thanh (Thành uỷ Hạ Long)

Cùng chuyên mục