Kết thúc năm 2010, doanh thu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đạt 68.000 tỷ đồng, tăng trên 10%. Tiền lương của người lao động đạt bình quân 6,2 triệu đồng/người/tháng, trong đó sản xuất than 6,5 triệu đồng/người/tháng.
Hết năm, TKV đã khai thác được 46,7 triệu tấn than nguyên khai (trong đó than tại Quảng Ninh 44,7 triệu tấn); bóc xúc trên 200 triệu m3 đất đá; đào hơn 300km lò; tiêu thụ được 42,5 triệu tấn than sạch (trong đó xuất khẩu 18,5 triệu tấn, bằng 95% kế hoạch và giảm 24% so với năm 2009). Ngoài ra, TKV còn sản xuất, lắp ráp được 210 xe trung xa; 3.600 triệu KWh điện; 50.500 tấn vật liệu nổ công nghiệp; 755 tấn thiếc thỏi, 45.500 tấn tinh quặng đồng.
Hệ thống monoray vận chuyển công nhân ra vào lò tại Công ty Than Nam Mẫu - TKV.
Đạt được kết quả trên, Tập đoàn đã rà soát thay thế một số khâu còn bất hợp lý trong dây chuyền công nghệ; quản lý tốt than đầu nguồn, than tiêu thụ và chống gian lận thương mại; xây dựng kế hoạch sản xuất và điều hành một cách linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Điều tiết thiết bị, nhân lực để tập trung khai thác ở từng khu vực nhằm phát huy tối đa năng lực, đồng thời tập trung chế biến nâng cao phẩm cấp than và tỷ lệ thu hồi sau sàng tuyển. Quản lý chặt chẽ chỉ tiêu công nghệ và định mức kỹ thuật gồm: Sản lượng, hệ số đất, mét lò, cung độ vận chuyển, tỷ lệ nổ mìn, tỷ lệ lò chống sắt, lò đá, chất lượng than, tổn thất than, thu hồi than... cho từng khoáng sàng. Đưa công nghệ định vị toàn cầu (GPS) vào để kiểm soát hoạt động đổ thải; lắp đặt hệ thống hộp đen đối với đầu máy kéo than mỏ nhằm nâng cao an toàn và năng lực vận tải đường sắt. Áp dụng triệt để khoán chi phí theo công đoạn sản xuất, tính giá thành cho từng sản phẩm để điều hành chi phí. Trong năm Tập đoàn đã đưa giá khung ZH, GK, giá khung xích vào 8 lò chợ ở các đơn vị như Nam Mẫu, Dương Huy, Khe Chàm, Thống Nhất, Đông Bắc, Uông Bí. Tiếp tục tập trung thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng than như: Cải tạo mở rộng các cảng than vùng Uông Bí, Cẩm Phả; hoàn tất công tác đầu tư các tuyến băng cấp than cho cảng khu vực Mạo Khê, tuyến đường sắt Điền Công - Vàng Danh, các nút giao thông giao cắt với QL18A vùng Uông Bí, Cẩm Phả, các tuyến đường vận tải, liên lạc nội bộ khu vực mỏ Uông Bí, Cẩm Phả. Đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân; cơ sở vật chất cho các trường đào tạo; đầu tư nâng cao năng lực cho Trung tâm Cấp cứu mỏ...
Một đồng chí lãnh đạo TKV cho biết: “Cùng với đó TKV cũng hoàn thành việc chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn và 5 đơn vị trực thuộc sang hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên; chuyển Viện KHCN mỏ và Viện Cơ khí năng lượng và mỏ thành tổ chức khoa học và công nghệ, tự trang trải kinh phí. Hoàn thiện tổ chức quản lý trong nội bộ Tập đoàn, tập trung các nguồn lực để phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm mục tiêu cùng với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục là lực lượng nòng cốt, chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và tham gia tích cực vào việc điều tiết vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Quán triệt kỹ chỉ thị của Thủ tướng trong tập thể lãnh đạo Tập đoàn và các ban chức năng về việc báo cáo các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi quyết định các vấn đề về vay vốn nước ngoài; thành lập, góp vốn thành lập mới doanh nghiệp; kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư phát triển hàng năm và 5 năm”.
Bóc xúc đất đá tại Công ty CP Than Cao Sơn - TKV.
Năm 2011, dự kiến nhu cầu than trong nước sẽ tăng so với 2010, theo đó TKV sẽ sớm triển khai thực hiện đầu tư các mỏ hầm lò mới như: Mỏ Khe Chàm II-IV, mỏ than Núi Béo; đầu tư khai thác xuống sâu dưới mức -150 mỏ Mạo Khê và tiếp tục mở rộng, nâng công suất và duy trì các mỏ than hầm lò hiện có. Tiếp tục đẩy nhanh việc hiện đại hoá công nghệ khai thác hầm lò bằng việc phổ cập việc tiếp tục áp dụng mạnh vì chống thuỷ lực đơn, giá thuỷ lực di động, cơ giới hoá công tác đào và chống lò khai thông, mở vỉa và chuẩn bị sản xuất ở những nơi có thể cơ giới hoá, đầu tư các thiết bị khoan tự hành phục vụ công tác đào lò, tăng cường đầu tư thiết bị an toàn mỏ hầm lò. Đẩy mạnh cơ giới hoá khấu than ở các lò chợ; chống vì neo ở các nơi có điều kiện sử dụng; đầu tư cơ giới hoá công tác đào lò hợp lý để đẩy nhanh tốc độ đào lò và xây dựng một số nhà máy tuyển than mới. Phấn đấu khai thác trên 47 triệu tấn than nguyên khai; sản xuất 42,5 triệu tấn than thành phẩm; doanh thu đạt khoảng 73.000 tỷ đồng, trong đó, doanh thu tại Quảng Ninh 62.000 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2010.