Trần Ngọc Tảo là một trong số không nhiều tác giả ở Quảng Ninh vừa làm văn vừa làm báo, và cả hai đều để lại cho bạn đọc những ấn tượng đáng nhớ! Riêng với tôi, tôi quen, rồi thân thiết với anh trước hết là bởi “cái duyên” với thơ phú...
Cách đây khoảng hơn 30 năm, lần đầu tiên tôi gặp Trần Ngọc Tảo. Chúng tôi, những tác giả làm thơ mới xuất hiện ở Quảng Ninh, đợt ấy về Hội VHNT tỉnh dự lớp thơ do nhà thơ Trần Nhuận Minh phụ trách. Dạo đó tôi còn dạy học ở Bình Liêu, đã được đọc nhiều thơ của bạn viết trên báo Quảng Ninh, báo Văn nghệ, hoặc trên tạp chí Văn nghệ quân đội, tạp chí Người Vùng mỏ v.v... nhưng chưa có dịp làm quen, trò chuyện... Và nhờ có lớp học này, tôi gặp được Trần Ngọc Tảo, Ngô Xuân Hội, Nguyễn Đức Phong, Phạm Hồng Nhật, Hồ Viết Ngoạn... Trong số đó, Trần Ngọc Tảo già giặn hơn cả. Bấy giờ, anh đang làm ở Mỏ Than Đèo Nai. Lúc nào anh cũng đeo cặp kính cận dày cộp, to bè trên mắt, lưng hơi còng, nói năng trầm tĩnh, rất đàn anh. Anh nói là đã đọc thơ tôi và nghĩ tôi già hơn cơ, chứ không ngờ lại trẻ hơn anh. Anh chăm chỉ viết và lắng ý kiến góp ý của mọi người về thơ mình và lại chỉnh sửa, rồi đọc cho mọi người nghe. Và nếu có ai băn khoăn câu gì, anh lại sửa... Sau lần đó chúng tôi thân nhau. Anh viết khoẻ hơn và hay hơn!
Đến khi anh về công tác ở Báo Quảng Ninh, còn tôi về Hội VHNT tỉnh thì chúng tôi có dịp gần nhau hơn. Có một kỷ niệm mà tôi cứ canh cánh trong lòng. Đó là năm 1985, Hội VHNT tỉnh in cho anh một tập thơ, tập Khoảng trời thị xã. Ở bài thơ Tìm cành thuốc quý, anh đề tựa: “Tặng Hưng” (Chị Hưng, vợ anh, làm nghề y nên anh viết bài thơ này là để tặng vợ). Nhưng khi nhà in sắp chữ, chữ Hưng lại thành chữ... Thuỷ. Sau những ngày đầu vui vì tập thơ mới ra mắt, Tảo tìm tôi. Anh nói giọng buồn buồn. “-Gay quá, vợ mình giận mình đó. Bài thơ duy nhất của mình đề tặng vợ, không hiểu sao lại thành tặng người khác! Cô ấy đang điều tra xem mình tặng Thuỷ nào...”. Tôi là người chữa bản in tập thơ này cũng không hiểu sao lại ra thế. Tôi tức tốc giở bản thảo ra đối chiếu. Khi vỡ lẽ, hai chúng tôi ôm nhau cười (Trần Ngọc Tảo mà cười thì vang lắm). Thì ra vì chữ anh mất nét, vụn, khó đọc nên người sửa mo rát “nhìn gà hoá cuốc”... Và tất nhiên, chỉ là sự hiểu lầm nên chị Hưng cũng không giận anh lâu!
Trần Ngọc Tảo sống ở vùng than Cẩm Phả, anh làm thơ về người thợ, về công việc nặng nhọc của việc làm than. Những tập thơ Khoảng trời thị xã, Đêm sáng, Hạt vàng, Sáng chân mây đều viết về người thợ làm than. Thơ anh giản dị, giàu chất ngợi ca, ấm và đầy niềm tin yêu.
Chúng tôi vào lò chẳng mang gì đâu
Từ que diêm điếu thuốc
Chỉ mang quả tim giữ đều nhịp đập
Lưỡi búa như mảnh trăng đầu tháng
Treo góc trời...
(Vòm trời thợ lò)
Lửa ơi cháy hồng lên
Than bừng ra sức sống
Ánh lửa trong mắt em
Tôi vụng về bỡ ngỡ
Hòn than cháy trong tôi
Câu thơ bén lửa
(Lửa than)
Nhớ những năm trước đây, Trần Ngọc Tảo viết khoẻ, in liên tục trên các báo và tạp chí. Nhưng cũng chính thời điểm đó anh không được vui. Gặp tôi lần nào anh cũng bứt rứt về thơ mình. Anh nói là phải viết khác đi, phải viết hay hơn, phải mới hơn, phải có “động từ mạnh” trong thơ... Sự sôi nổi của anh cũng kém đi. Anh đọc cho tôi nghe những bài thơ mới của mình, nhưng có vẻ vẫn chưa thật tin tưởng. Tôi động viên anh và cũng để mình yên tâm. Tìm tòi là cái quý của những người cầm bút. Nhưng cũng cần thận trọng nếu không thì ta lại đi vào ngõ cụt...
Và cũng thật đột ngột anh đưa tôi xem một tập bản thảo những bài thơ viết cho thiếu nhi. Tôi đọc và ngạc nhiên thấy anh viết cho trẻ em thật ngộ nghĩnh, hồn nhiên và đáng yêu. Tôi góp ý đôi chỗ, tưởng anh không vui nhưng không ngờ anh cười to và đề nghị đi theo anh. Tưởng đi đâu hoá ra anh đưa tôi vào một phòng nghỉ ở khu ba tầng thành phố Hạ Long. Anh đề nghị hai thằng cùng sửa thơ anh. Anh bảo ở Quảng Ninh, anh tin tôi vì tôi đã viết nhiều cho thiếu nhi. Thế là hai đứa cùng cười và ngồi sửa thơ từ trưa đến tối. Khi về, anh còn nói vui với cô nhân viên nhà nghỉ. “Em đừng nghĩ bọn anh đồng tính nhé?”...
Sau đợt ấy anh và tôi cùng đi dự một trại sáng tác văn học cho thiếu nhi của Hội Nhà văn. Cũng sau trại này anh cho ra đời các tập thơ Rồng rắn vào thành phố, Cưỡi trâu lên trời. Và cũng từ hàng loạt những sáng tác mới này mà Trần Ngọc Tảo được kết nạp vào Hội Nhà văn. Anh phấn khởi lắm. Anh bảo, được vào Hội Nhà văn đối với anh là một một mơ ước, nhưng giờ vào rồi lại lo, phải viết sao cho xứng là hội viên...
Ngoài công tác ở cơ quan, anh thật sự nhiệt tình làm công tác Hội. Năm ngoái khi bầu Chi hội trưởng, Chi hội phó Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh, anh vui vẻ nhận làm Chi hội trưởng. Nhận việc, anh tổ chức xe cho hội viên đi họp ở Yên Bái, Ninh Bình...
Nửa tháng trước anh nói với tôi, anh xin thôi làm Uỷ viên BCH Hội VHNT tỉnh và đề cử một đồng chí trẻ hơn ở Cẩm Phả làm. Tôi không nói gì. Ngày 12-11 vừa rồi, BCH Hội VHNT tỉnh họp chuẩn bị cho đại hội tới, mọi người đề cử nhưng anh vẫn một mực xin rút như anh đã từng nói với tôi.
Chi hội Nhà văn ở Quảng Ninh có mười người, bỗng nhiên anh ra đi, để lại một khoảng trống vắng trong lòng mọi người. Mấy hôm nay tôi liên tục nhận được điện thoại của bạn bè, những người làm thơ ở Quảng Ninh, gọi điện hỏi thăm thực hư về việc anh ra đi. Khi biết đó là sự thật, ai cũng lặng người... Sao vậy, sao lại ra đi đột ngột vậy, Trần Ngọc Tảo ơi!
Tưởng nhớ nhà báo, nhà thơ Trần Ngọc Tảo Nhà thơ Trần Ngọc Tảo sinh 9-4-1947, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ninh, nguyên Trưởng ban Kinh tế - Báo Quảng Ninh, Uỷ viên Ban Thường vụ Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh, quê phường Hoàng Diệu, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình, đã từ trần lúc 21 giờ 55 phút ngày 14-11-2008 tại nhà riêng, ở phường Cẩm Tây, thị xã Cẩm Phả. Nhà thơ Trần Ngọc Tảo từng là công nhân Mỏ than Khánh Hoà (tỉnh Thái Nguyên), sau khi học xong ở Trường Trung cấp kỹ thuật mỏ, làm thợ lái máy khoan ở Mỏ Than Đèo Nai. Năm 1985, Trần Ngọc Tảo chuyển công tác sang Báo Quảng Ninh cho đến khi nghỉ hưu (2006). Nhà thơ Trần Ngọc Tảo là tác giả của nhiều tập thơ: Khoảng trời thị xã (1985), Đêm sáng (1990), Cánh diều (1991), Hạt vàng (1992), Rồng rắn vào thành phố (1994), Cưỡi trâu lên trời (1996), Sáng chân mây (2002). Ông từng đoạt giải thưởng thơ năm 1983 của Bộ Lâm nghiệp và Hội Nhà văn Việt Nam và được tặng Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long.
Trịnh Công Lộc
Đau xót chảy về đâu?
Ngô Tiến Cảnh gọi tôi -
Trần Ngọc Tảo “đi” rồi!...
Nhớ những lúc tìm gặp nhau bằng được
Vì một chữ, một câu, ngẫm nghĩ chưa xong
Cặp kính trắng,
trắng trước khi tóc trắng
Tất bật rung theo câu chuyện hát rong...
Nhớ những lúc đọc thơ bên trẻ nhỏ
Nét hồn nhiên tí tách nhảy theo vần
Mong thành nhạc, hát trong đêm trăng sáng
Muốn đời mình chỉ để lại niềm vui...
Nhớ những lúc thẳng căng và quyết liệt
Trang báo hắt lên ngang - dọc, bất thường
Găm vào đấy cả nỗi niềm day dứt
Cả những lỡ lầm vừa giận, vừa thương...
Càng nhớ lắm, càng thương nhiều lắm!
Đau xót này - đau xót chảy về đâu?...
Thôi đành vậy, cứ cho là nghiệt ngã
Đau đến đâu cũng chữ nhẫn lên đầu!
15-11-2008