Nỗ lực đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

Theo đánh giá của các chuyên gia, trong tương lai gần, nhu cầu than của đất nước sẽ tăng vọt trong các năm 2010 (37 triệu tấn), 2015 (94 triệu tấn), 2020 (184 triệu tấn), 2025 (308 triệu tấn).

Như vậy, sau năm 2012 Việt Nam phải nhập khẩu than với số lượng dự kiến: Năm 2015 là 34 triệu tấn, năm 2020 nhập khẩu 114 triệu tấn, năm 2025 nhập khẩu 228 triệu tấn. Ông Trần Xuân Hoà, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết: "Dù có tiền cũng không thể nhập khẩu than với số lượng lớn như trên, đặc biệt rất khó ký được hợp đồng nhập khẩu dài hạn với chất lượng ổn định để thiết kế xây dựng nhà máy điện". Có thể thấy, than vẫn là mặt hàng chính trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia khi chưa có năng lượng khác thay thế.

Nỗ lực đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia ảnh 1
Vận hành thử nghiệm giàn chống tự hành Vinaalta phục vụ khai thác than trong lò chợ ở Công ty Than Nam Mẫu - TKV.

Với vai trò là trụ cột chính trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, trên cơ sở tài nguyên được giao, TKV chủ động sắp xếp, điều chỉnh ranh giới mỏ, giảm bớt tình trạng manh mún và giao ranh giới mỏ cho các đơn vị trực thuộc quản lý. Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch đẩy mạnh thăm dò xác minh thêm trữ lượng than, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất của từng khoáng sàng và cả vùng mỏ, đảm bảo dữ liệu vững chắc cho quy hoạch và thiết kế phát triển các mỏ than lâu dài trên địa bàn Quảng Ninh. Hiện, TKV có 20 mỏ lộ thiên và trên 30 mỏ hầm lò với sản lượng 43-44 triệu tấn/năm, trong đó có 5 mỏ lộ thiên lớn với công suất trên 2 triệu tấn/năm (Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai, Hà Tu, Núi Béo) và 9 mỏ hầm lò có công suất trên 1,5 triệu tấn/năm. Trong khâu khai thác, TKV đã tập trung vào đổi mới công nghệ như sử dụng phương pháp xúc chọn lọc với máy xúc thuỷ lực gầu ngược, sử dụng xe tải cỡ lớn từ 55 đến 96 tấn, xe tải khung mềm, máy cày xới... ở các mỏ lộ thiên. ở các mỏ hầm lò thay cột chống gỗ bằng vì chống cơ khí thuỷ lực, giá khung di động, dàn chống cơ giới tự hành (KDT, VINAALTA), kết hợp máy khấu liên hợp, máng cào trong lò chợ nâng cao mức độ tự động, an toàn, giảm tiêu hao gỗ và chi phí sản xuất; đào lò bằng máy liên hợp (AM-45, AM-50), chống lò bằng vì neo (chất dẻo, bê tông), vận tải bằng băng tải, máng cào. Trong khâu sàng tuyển đã đưa công nghệ tuyển máng rửa nghiêng sang tuyển bằng máy lắng và xoáy lốc huyền phù... Khâu kỹ thuật khai thác được TKV đặc biệt chú trọng như đã nghiên cứu và áp dụng thành công hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng cho hầu hết các mỏ và hoàn thiện quy trình công nghệ cho khai thác lộ thiên. Hiện hệ thống khai thác chia cột dài theo phương, lò chợ khấu theo chiều dốc cho vỉa thoải và nghiêng đang là hệ thống khai thác truyền thống được ứng dụng nhiều nhất trong khai thác hầm lò. Tuy nhiên, một số công nghệ khai thác khác cũng đang được áp dụng thử nghiệm để khai thác vỉa mỏng và dốc trên 50 độ như: Hệ thống khai thác dưới dàn mềm lò chợ cắt nghiêng; hệ thống áp dụng cơ giới hoá khai thác bằng giàn 2ANSH, hệ thống khai thác chia lớp ngang nghiêng chống giá thuỷ lực,...; khấu than trong lò chợ bằng máy combai tại những vỉa than dốc thoải dưới 25 độ. Nhờ thực hiện các giải pháp trên nên sản lượng than của các công ty thuộc ngành Than đã tăng từ 2 đến 5 lần trong 10 năm qua, hiện không còn công ty than thành viên nào của TKV có sản lượng dưới 1 triệu tấn than nguyên khai, tiêu biểu như Công ty cổ phần Than Núi Béo đã đạt sản lượng trên 5 triệu tấn than trong năm 2009.

Ông Trần Xuân Hoà, Tổng Giám đốc TKV cho biết thêm: "Để đạt được sản lượng than phục vụ nhu cầu trong nước 60 triệu tấn vào năm 2015, 70 triệu tấn vào năm 2020 và trên 80 triệu tấn vào năm 2025, TKV đang tập trung tăng cường đầu tư nâng công suất các mỏ hiện có, đầu tư thêm nhiều mỏ hầm lò mới tại khu vực Mạo Khê - Tràng Bạch, Bảo Đài và Đông Triều - Phả Lại; xuống sâu các mỏ lộ thiên vùng Cẩm Phả tới mức -350. Tiếp tục hiện đại hoá thiết bị của dây chuyền khai thác hiện nay theo hướng đưa vào sử dụng các loại thiết bị cơ động có công suất lớn, phù hợp với điều kiện và quy mô của từng mỏ, từng khu vực... Đẩy mạnh và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị tài nguyên than, quản trị môi trường, quản lý kỹ thuật an toàn và điều hành sản xuất theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ điều khiển tự động hoá trong một số dây chuyền công nghệ, công tác kiểm soát an toàn và môi trường mỏ. Tập trung đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật hiện có; đào tạo bổ sung những khâu còn thiếu, còn yếu; xây dựng lực lượng cán bộ, công nhân của ngành mạnh cả về chất lượng và số lượng để có thể làm chủ công nghệ và thiết bị tiên tiến. TKV cũng được Chính phủ giao nhiệm vụ triển khai các dự án thuộc bể than đồng bằng sông Hồng nhằm tăng sản lượng than trong nước đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia trong thời kỳ mới. Tài nguyên dự báo theo các chuyên gia ở bể than đồng bằng sông Hồng lên đến 210 tỉ tấn, riêng tài nguyên trữ lượng ở Hưng Yên, Thái Bình đã được tìm kiếm tỉ mỉ và thăm dò khoảng 30 tỉ tấn than á-bitun (than mềm, chất bốc cao, độ tro thấp) rất phù hợp cho các nhà máy nhiệt điện. TKV đã hợp tác cùng tổ chức NEDO (Nhật Bản) tiến hành khoan 19 lỗ khoan thăm dò khu vực Bình Minh, Khoái Châu (Hưng Yên) với diện tích 25km2 và đã xác định được trữ lượng khoảng 456 triệu tấn. ở khu vực này trước mắt đề nghị Chính phủ cho phép thực hiện dự án thử nghiệm Khoái Châu 1 bằng công nghệ khí hoá than ngầm dưới lòng đất.

Cùng với việc đẩy mạnh khai thác than để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, TKV còn đẩy mạnh đầu tư, xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than nhiệt lượng thấp, đầu tư hoá than (hoá than thành amoniac, axitnitric để sản xuất nitrat amon). Phát triển các mỏ khoáng sản kim loại gắn với xây dựng các nhà máy luyện kim và các xưởng hoá chất đi kèm; khai thác các mỏ khoáng sản phi kim như đá vôi, đất sét, phụ gia để sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng; đẩy mạnh sản xuất cung ứng vật liệu nổ công nghiệp. Phát triển ngành cơ khí theo hướng chế tạo máy mỏ, phương tiện vận tải thuỷ, lắp ráp xe tải nặng, xe chuyên dùng. Không ngừng phát triển dịch vụ địa chất, khoa học công nghệ, tư vấn đầu tư, thương mại, du lịch, hàng hải; tăng cường xây lắp công trình mỏ, luyện kim, dịch vụ môi trường, đầu tư bất động sản…

Cùng chuyên mục