Thực hiện nhiệm vụ của mình, từ 2005 đến nay Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã phát huy mọi nguồn lực, sản xuất than - khoáng sản đủ cung cấp cho nhu cầu của các ngành kinh tế trong nước, đồng thời dành một lượng xuất khẩu hợp lý.
Sản xuất than sạch tăng trưởng bình quân 8,5%/ năm, năm 2009 tiêu thụ 44,4 triệu tấn, tăng 43% so với năm 2005. Trong 5 năm đã sản xuất và tiêu thụ gần 2.000 xe ô tô; hạ thuỷ, bàn giao 11 tàu 4.000-12.500 tấn; chế tạo hàng chục máy biến áp 110KV và nhiều thiết bị khác như máy xúc điện, máy xúc đá hầm lò, tàu điện, giàn, giá chống thuỷ lực; 2 nhà máy điện Na Dương và Cao Ngạn sản xuất ổn định, sản lượng điện 5 năm đạt gần 6 tỷ KWh; hai nhà máy Sơn Động và Cẩm Phả đã phát điện lên lưới quốc gia từ đầu năm 2010. Lợi nhuận hàng năm đạt từ 2,6 đến 6,4 ngàn tỷ đồng, bố trí đủ việc làm cho CNVC với mức thu nhập bình quân tăng từ 3,61 triệu đồng/người/tháng vào năm 2005 lên 6,2 triệu đồng/người/ tháng vào năm 2009 (tăng 71%).
Các thiết bị hiện đại công suất lớn phục vụ bóc xúc đất đá tại Công ty CP Than Hà Tu - TKV.
Ảnh: Đỗ Giang
Có được kết quả trên, cùng với việc sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp, TKV đã không ngừng đổi mới, hiện đại hoá công tác SXKD, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển KHCN theo hướng cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá và sản xuất an toàn hơn, hiệu quả hơn và sạch hơn ở các đơn vị. Trong khai thác hầm lò đã sử dụng vì chống thuỷ lực, giá khung di động, một số mỏ hầm lò đã áp dụng cơ giới hoá đồng bộ trong khai thác; đầu tư hệ thống vận tải liên tục, vận tải người và vật liệu bằng Monoray Diezen, tời vô cực; đào lò bằng máy liên hợp (AM-45, AM-50); chống lò bằng vì neo (chất dẻo, bê tông)... Các mỏ lộ thiên đã sử dụng thiết bị cơ giới có công suất lớn như ô tô 96 tấn, máy khoan đường kính lớn, máy khoan thuỷ lực, máy xúc điện 10m3, máy xúc thuỷ lực gầu ngược, hệ thống vận tải liên hợp ô tô - băng tải, ô tô khung mềm. Các nhà máy tuyển được cải tạo nâng công suất, thực hiện tốt công tác quản lý kỹ thuật do vậy luôn đạt năng suất cao, tăng tỷ lệ thu hồi than. Sử dụng các phần mềm chuyên ngành và tích hợp đa chức năng vào mô hình hoá và tính toán, xử lý dữ liệu thuận tiện, nhanh chóng, chính xác. Đầu tư ứng dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Các nhà máy điện sử dụng công nghệ tầng sôi tuần hoàn (CFB) đốt than nhiệt năng thấp để tận dụng tài nguyên, giảm phát thải ô nhiễm và khí nhà kính. Bên cạnh đó mối quan hệ giữa Công ty mẹ - Tập đoàn với các công ty thành viên chuyển sang cơ chế thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh thể hiện bằng hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị. Có cam kết sử dụng các sản phẩm và dịch vụ nội bộ để giúp nhau cùng phát triển theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, cùng có lợi. Điều đó đã làm cho TKV phát huy được nội lực, mang lại hiệu quả cho các công ty thành viên và toàn Tập đoàn. Từ năm 2006, TKV áp dụng khoán giá thành theo đơn giá công đoạn tổng hợp - một phương pháp quản lý chi phí, giá thành khoa học, tiên tiến. Đơn giá được ban hành niêm yết công khai từng công đoạn sản xuất, đảm bảo sự bình đẳng, tạo ra sự minh bạch hơn, tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao hơn cho các đơn vị. Do có cơ chế khoán quản chi phí hợp lý đã tạo động lực cho đơn vị tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho người lao động. Đặc biệt trong năm 2008, 2009 mặc dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới nhưng do chủ động quản trị chi phí nên Tập đoàn luôn đảm bảo được các cân đối lớn, nhanh chóng vượt qua khủng hoảng và duy trì tăng trưởng. TKV đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ về giá bán than cho các hộ điện, xi măng, giấy, phân bón, mặc dù giá than cho các hộ này trong nhiều năm qua còn thấp hơn giá thành. Tập đoàn đã áp dụng cơ chế chính sách trả lương và thu nhập cho người lao động theo năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả công tác của từng người, từng bộ phận. Xây dựng hệ số giãn cách giữa các chức danh, ngành nghề và hệ số giãn cách trong từng nhóm nghề, coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy thi đua lao động, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu SXKD của người lao động. Vì thế, thu nhập của các lao động chính trong dây chuyền sản xuất như thợ lò, thợ lái máy xúc, lái xe vận tải có trọng tải lớn, thợ vận hành chính và cán bộ quản lý giữ vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp đã được nâng lên đáng kể. Đã thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người lao động, tổ chức tốt việc chăm sóc sức khoẻ người lao động và các hoạt động văn hoá, thể thao, giải trí. Hàng năm tổ chức cho trên 6.000 lượt người đi điều dưỡng, phục hồi chức năng và rửa phổi cho 300 người.
Song song với đó, công tác thi đua khen thưởng của TKV đã được các cấp uỷ Đảng từ Tập đoàn đến các cơ sở quan tâm lãnh đạo sâu sát; các tổ chức đoàn thể quần chúng tăng cường phối hợp cùng cơ quan chuyên môn vận động người lao động thực hiện hiệu quả. Từ các phong trào thi đua, nhiều cá nhân, tập thể được nhận những phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước. Trong 5 năm qua, đã có 4 tập thể và 3 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động; 4 tập thể được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang; 257 tập thể và cá nhân được nhận huân chương các loại; 19 đơn vị nhận cờ thi đua của Chính phủ; 28 cá nhân đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc và nhiều phần thưởng cao quý khác.