Pháp Loa - Đệ nhị Tổ Trúc Lâm

Trong lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam, Phật phái Trúc Lâm để lại dấu ấn sâu đậm ở cụm di tích danh thắng thuộc dãy núi Yên Tử và phụ cận - nay là Quần thể khu di tích Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Một trong các nhân vật góp phần xây dựng, phát triển và để lại dấu ấn sâu đậm của Phật phái Trúc Lâm đó là Pháp Loa - hay còn gọi là Đệ nhị Tổ Trúc Lâm.

bqn_tr_vien-thong-bia.jpg
Bia "Thanh Mai Viên Thông tháp bi" (bên phải) ở chùa Thanh Mai kể về cuộc đời và sự nghiệp tu hành của Pháp Loa đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2016.

Theo các văn bia ghi lại, Pháp Loa (1284-1330) tên là Đồng Kiên Cương, quê ở thôn Đồng Hòa, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng). Cụ thể, văn bia "Thanh Mai Viên Thông tháp bi" được công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2016 ở chùa Thanh Mai (phường Nguyễn Trãi, Hải Phòng do PGS.TS Đinh Khắc Thuân (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) dịch ghi: "Sư sinh giờ Mão, ngày 17 tháng 5 năm Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6, tại thôn Đồng Hòa, hương Cửu La, giang Nam Sách. Khi xưa vào tháng 8 năm Quý Mùi (1283), mẹ sư là Vũ thị, đêm nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần, bà vui mừng ôm vào lòng, đến khi thức giấc, bà biết có thai. Ngày sinh sư, khắp nhà tỏa mùi hương thơm, hồi lâu mới hết. Cha dòng dõi tĩnh hạnh, họ Đồng, hiệu Thuần Mậu, mẹ họ Vũ, hiệu Từ Cứu. Tục danh của sư là Kiên Cương. Lúc còn nhỏ đã có thiên tư dĩnh ngộ, không nói lời ác, không ăn chất cay nồng và ôi tanh".

Cũng theo PGS.TS Đinh Khắc Thuân, nội dung văn bia "Thanh Mai Viên Thông tháp bi" cho biết, năm 1304, ông xuất gia theo Điều Ngự (tức Phật hoàng Trần Nhân Tông), được đặt tên là Thiện Lai. Ban đầu được gửi đến học với Hòa thượng Tinh Giác ở Quỳnh Quán, sau đó, thường đi theo Điều Ngự dự các buổi giảng. Năm 1305, ông được Điều Ngự cho thụ giới Thanh Văn và Bồ Tát, đặt pháp danh là Pháp Loa. Năm 1306 được cử làm giảng chủ ở chùa Báo Ân. Năm 1307, ông và một số đệ tử khác được Điều Ngự giảng cho nghe bộ Đại Tuệ ngữ lục. Trong năm đó, trên đỉnh Ngọa Vân, ông được Điều Ngự giao cho y bát và tâm kệ. Đến ngày mồng Một tháng Giêng năm Mậu Thân (1308) ông được chính thức trao pháp y, giữ cương vị tổ thứ hai của phái Trúc Lâm.

Nhờ được sự ủng hộ và giúp đỡ của giới quý tộc mà uy thế và cơ sở kinh tế của giáo hội Trúc Lâm ngày càng lớn mạnh. Pháp Loa được Anh Tông cho nhiều ruộng đất ở làng Đội Gia, cấp luôn cả người canh tác. Văn bia ghi: "Tháng 11, năm Nhâm Tý, niên hiệu Hưng Long thứ 20 (1312), vua Anh Tông ban chiếu mời sư vào chùa Tự Phúc trong đại nội, giảng Đại Tuệ ngữ lục. Nhân đó, vua lấy bạc trong kho trị giá 50 nghìn quan tiền, giao cho sư bố thí cho những người nghèo, ban cho thuyền công và những người chèo thuyền để sư tiện đi lại hàng ngày. Sư từ chối không nhận, vua Anh Tông lại sai trích ra một khu ruộng 500 mẫu ở trang Niệm Như để sư làm của thường trụ tam bảo..." (Thanh Mai Viên Thông tháp bì).

bqn_tr_chua-quynh.jpg
Quỳnh Lâm là một trong các ngôi chùa gắn liền với sự nghiệp tu hành của Pháp Loa, được Đệ nhị tổ Trúc Lâm xây dựng vào năm 1317.

Tháng 12 năm 1317, Pháp Loa sáng lập viện Quỳnh Lâm (tức chùa Quỳnh Lâm). Văn Huệ vương Trần Quang Triều cúng 4.000 quan tiền. Nhiều quan lại, tôn thất nhà Trần cúng ruộng với tổng cộng hơn 1.000 mẫu. Ngoài việc dựng chùa, tô tượng, Pháp Loa cũng rất quan tâm và chú trọng đến việc in kinh sách, mở giảng các bộ Phật pháp và các kinh.

Dưới thời trụ trì của Pháp Loa, Phật giáo phát triển rộng khắp, tăng ni, đệ tử nhiều, như văn bia "Thanh mai Viên Thông tháp bi" ghi rằng: "Các đệ tử của sư (Pháp Loa) có: Quang ở Côn Sơn, Ngung ở Quế Đường, Huy ở Ngân Sơn, Ngân ở Diễn Châu, Thuần ở Nhân Kiệt, Nhãn ở Quỳnh Lâm, Nguyên ở Siêu Loại, Quản ở Trúc Đường, Na ở Hồ Thiên, Sang Khảng ở Quỳnh Lâm, Quang ở Tuyết Am, Tính ở Quang Am, Chỉ ở Ngạnh Minh, Trang ở Cổ Châu. Đệ tử trên 3.000 người đều liệt kê trong đồ tịch".

Cũng văn bia này cho biết, ngày 13 tháng 2 năm Canh Ngọ, niên hiệu Khai Hựu thứ 2 (1330), Pháp Loa từ chùa Vĩnh Nghiêm về viện Quỳnh Lâm, đem những điều mà Điều Ngự Trần Nhân Tông đã truyền trước đây là giá trạng và tả tâm kệ truyền cho sư Huyền Quang là vị tổ thứ ba của Trúc Lâm dậy rằng phải gìn giữ lấy.

Ngày mồng 3 tháng 3 năm 1330, Pháp Loa cầm bút viết kệ xong, không bệnh qua đời, hưởng dương 47 tuổi. Môn đệ đưa di hài ngài về hỏa táng rồi an táng vào tháp Viên Thông ở sau chùa Thanh Mai. Thái Thượng hoàng Trần Minh Tông gia phong hiệu cho Pháp Loa là Tịnh Trí tôn giả, gọi là Pháp Viên thông.

Đại Dương

Cùng chuyên mục