Phát triển ngành cơ khí: Cần đầu tư chiều sâu

Mặc dù đã tạo dựng được một chỗ đứng trong ngành Công nghiệp, thế nhưng lĩnh vực cơ khí vẫn cần một điểm tựa để phát triển toàn diện. Đó chính là sự tập trung đầu tư chuyên sâu cả về nhân lực lẫn vật lực.

Phát triển ngành cơ khí: Cần đầu tư chiều sâu ảnh 1
Xưởng chế tạo cơ khí ô tô (Công ty Công nghiệp ô tô - TKV)

Khẳng định vị thế từ nội địa hoá

Đạt trình độ cao về chế tạo các thiết bị cơ khí, trước tiên phải kể đến Nhà máy Chế tạo thiết bị nâng hạ của Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung (Uông Bí). Với công suất 20.000 tấn sản phẩm/năm, Nhà máy sản xuất với 5 chủng loại sản phẩm là cẩu trục từ 5-300 tấn, cẩu chân đế từ 10-300 tấn, cẩu chân tháp từ 5-30 tấn, cẩu cổng trục từ 20-10.000 tấn, cẩu container từ 40-60 tấn với tổng vốn đầu tư ban đầu 585 tỷ đồng (theo dự kiến giai đoạn II đầu tư 2.000 tỷ đồng). Đây là 1 trong 20 dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm của Nhà nước, trực tiếp sản xuất sản phẩm cơ khí nặng và mới thay thế hàng nhập khẩu.

Đối với sản xuất thiết bị cơ khí phục vụ khai thác mỏ có Công ty Công nghiệp ô tô và Công ty Chế tạo máy - TKV. Với phương châm hợp tác với nước ngoài chuyển giao công nghệ sản xuất làm đòn bẩy, Công ty Công nghiệp ô tô - TKV đã hợp tác với Công ty CP Avtokraz (Ukraina) xây dựng một dây chuyền lắp ráp xe Kraz có trọng tải từ 8 tấn trở lên, Công ty CP Kamaz (Liên bang Nga) để lắp xe Kamaz. Đến đầu năm 2007, Công ty tiếp tục hợp tác với hãng Scania (Thuỵ Điển) lắp xe ô tô tự đổ có tải trọng 35 tấn. Đây là các loại xe đã có uy tín lâu năm ở Việt Nam nổi tiếng với độ bền cao, thích hợp với mọi địa hình, sử dụng và sửa chữa dễ dàng, thuận lợi. Hiện tại, nhiều chi tiết của xe đã được sản xuất thành công tại Công ty như: thùng ben, thùng chứa dầu, vỏ xe... Năng lực sản xuất và sửa chữa của Công ty mỗi năm đạt khoảng 700 xe ô tô phục vụ mỏ các loại và tỷ lệ nội địa hoá phấn đấu đạt 30%.

Công ty Chế tạo máy - TKV cũng đã tập trung vào khâu chế tạo các loại phụ tùng thiết bị cho các đơn vị sản xuất trong ngành Than để thay thế hàng nhập khẩu; chế tạo phụ tùng theo chương trình nội hoá để lắp ráp xe, máy và thiết bị khai thác - chế biến than; chế tạo các sản phẩm mới để phục vụ cho sản xuất than và các ngành kinh tế khác trong nước. Nhiều sản phẩm của Công ty chế tạo được khách hàng đánh giá cao như: Giá chuyển hướng và toa xe loại 30 tấn, 20 tấn, toa xe tự lật 30 tấn, goòng loại 1 tấn, 3 tấn; gầu máy xúc thuỷ lực, răng gầu và nhiều phụ tùng khác như gầu ngoạm có dung tích 5m3, 7m3, 9m3. Công ty còn chế tạo lắp đặt kết cấu thép, thiết bị phi tiêu chuẩn cho Nhà máy điện, thiết bị công nghệ chính cho các dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống sàng tuyển bốc rót than của 2 Công ty Tuyển than Cửa Ông và Tuyển than Hòn Gai. Ngoài ra, Công ty còn hợp tác với các hãng nước ngoài để chế tạo, lắp ráp thiết bị phục vụ khai thác than như: hãng REMAG (Ba Lan) chế tạo, lắp ráp máy đào lò AM-50Z; hãng ALRTA (Cộng hoà Séc) chế tạo, lắp ráp dàn đỡ thuỷ lực di động kiểu Vinalta; hãng OMZ (Liên bang Nga) chế tạo, lắp ráp máy xúc điện EKG-10, đây là loại máy xúc lần đầu tiên được lắp ráp và chế tạo tại Việt Nam với rất nhiều ưu điểm về kết cấu, truyền động điện, vận hành có tuổi bền cao, có thể lắp gầu xúc có dung tích gầu khác nhau để xúc các loại đất đá, than có tỷ trọng khác nhau. Lãnh đạo Công ty này khẳng định, con đường tự khẳng định mình và vươn lên đứng vững trên thị trường không còn lối nào khác là phải tự sản xuất. Thực tế cho thấy, thân phận đi làm thuê khiến nhiều doanh nghiệp tự thấy “tủi hổ” trong khi đó họ hoàn toàn có thể đảm đương được các dự án lớn, hoàn toàn có thể đứng ngang hàng đàm phán thuê các nhà thầu phụ nước ngoài và đứng ra điều hành họ.

Đầu tư chiều sâu

Có thể thấy, trong mấy năm trở lại đây, ngành cơ khí Quảng Ninh có sự phát triển vượt bậc, tăng trưởng nhanh cả về số lượng và chất lượng với nhiều sản phẩm mới, có giá trị cao. Nếu năm 2001, toàn ngành mới chỉ có 399 cơ sở với 6.953 lao động, tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp là 377,826 tỷ đồng thì đến 6 tháng đầu năm 2010, số cơ sở đã tăng lên khoảng 1.000, tạo việc làm cho 12.000 lao động, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 3.552 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng gần 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Mặc dù đã tạo dựng cho mình một nền tảng vững chắc tại hàng loạt các dự án lớn, cũng như thương hiệu các sản phẩm, thế nhưng từ Nhà máy thiết bị nâng hạ đến các doanh nghiệp cơ khí trong TKV vẫn “lép vế” trước các nhà đầu tư nước ngoài. Không ít dự án, các doanh nghiệp này phải nhận làm thầu phụ cho phía nước ngoài với mức giá thấp hơn nhiều lần so với mức giá ban đầu. Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là do không được đầu tư chiều sâu, nguồn vốn hạn hẹp. Không những thế, cơ chế cho công tác chế tạo cũng thiếu và nhiều khi không có lợi cho doanh nghiệp, ví như cơ chế làm thủ tục thay thế hàng nhập ngoại cho các sản phẩm này khi chế tạo trong nước…

Ông Phạm Quang Thái, Phó Giám đốc Sở Công Thương khẳng định: “Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam nói chung và doanh nghiệp cơ khí Quảng Ninh nói riêng sẽ thoát khỏi cảnh làm thuê nếu có một cơ chế hợp lý cũng như sự đầu tư thoả đáng để phát triển”. Ông Thái cũng cho rằng, trong xu hướng phát triển, ngành cơ khí Quảng Ninh cần được tổ chức hướng hoạt động tập trung phục vụ các ngành, các lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế so sánh như: khai thác, chế biến than; đóng mới và sửa chữa tàu biển; chế tạo thiết bị năng lượng; chế tạo, lắp ráp và sửa chữa ô tô, máy công trình; phát triển hệ thống các doanh nghiệp phụ trợ cho công nghiệp than, công nghiệp đóng tàu; đa dạng hoá các sản phẩm cơ khí phục vụ tiêu dùng và đời sống nhân dân. Bởi vậy, cần tạo hành lang khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn đầu tư đổi mới các khâu công nghệ cơ bản của ngành, hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo mô hình hiện đại.

Cùng chuyên mục