Theo số liệu kiểm kê của Sở Văn hoá- Thông tin thì so với các tỉnh Bắc Bộ, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có kho di sản văn hoá lớn nhất, phong phú, đa dạng nhất, với 541 di sản văn hoá vật thể là những đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh và 2.848 hồ sơ di sản văn hoá phi vật thể, là những phong tục, tập quán, trò chơi dân gian… Bảo tồn và phát huy giá trị những di sản văn hoá quý báu này chính là chiếc cầu nối quan trọng để Quảng Ninh cùng với cả nước bước vào hội nhập với thế giới.
Đã từ lâu, Quảng Ninh được cả nước cũng như thế giới biết đến không chỉ là một vùng công nghiệp than lớn nhất Việt Nam, mà còn bởi những di sản văn hoá quý báu, cả do thiên nhiên ban tặng và do con người sáng tạo nên. Năm 1962, trong đợt xếp hạng di tích cấp quốc gia đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Vịnh Hạ Long và khu di tích đền thờ và lăng mộ các vua Trần ở An Sinh (Đông Triều) là hai di tích đầu tiên của Quảng Ninh đã được đặc cách xếp hạng cấp quốc gia (tức là xếp hạng trước, hoàn chỉnh hồ sơ sau) bởi những giá trị đặc biệt của nó về cảnh quan thiên nhiên và lịch sử, văn hoá. Kế đến đợt thứ 2, năm 1974 là quần thể khu di tích Yên Tử. Ngoài Vịnh Hạ Long đã mang tầm di sản thế giới và đang được đề cử là kỳ quan thiên nhiên thế giới, Quảng Ninh có 4 di tích được coi là trọng điểm của quốc gia, đó là khu đền thờ và lăng mộ các vua Trần ở An Sinh, cụm di tích Chiến thắng Bạch Đằng (Yên Hưng), di tích Thương cảng Vân Đồn và khu di tích Yên Tử.
Một trong những đặc điểm của các di sản văn hoá của Quảng Ninh là được trải dài theo cả thời gian: từ khi con người đặt chân đến đây ở giai đoạn đồ đá, đồ đồng (cách ngày nay hàng ngàn năm) đến các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ...Đồng thời, các di sản văn hoá ở Quảng Ninh còn trải dài theo không gian, với sự phân bố từ miền núi tới hải đảo, từ Trà Cổ (Móng Cái) tới Đông Triều. Bên cạnh đó, Quảng Ninh có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có những bản sắc văn hoá riêng. Bên cạnh những di sản văn hoá mang nét truyền thống này, Quảng Ninh còn có một nền “văn hoá công nhân mỏ” mang đậm hơi thở của cuộc sống công nghiệp hiện đại, góp phần làm cho kho di sản văn hoá của Quảng Ninh ngày càng thêm phong phú, đa dạng, có sự đan xen giữa cái xưa và cái nay, giữa cái truyền thống và hiện đại.
Với sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, nhất là các cấp, ngành và người dân Quảng Ninh đã có nhận thức khá tốt về vai trò, ý nghĩa của việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị các di sản văn hoá. Những năm qua, nhiều di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh đã được quy hoạch đầu tư, tôn tạo lại với tổng trị giá lên tới nhiều tỷ đồng. Trong đó, có sự đóng góp đáng kể của nhân dân và các tổ chức, doanh nghiệp. Tiêu biểu như di tích Yên Tử, đền An Sinh, cụm di tích Chiến thắng Bạch Đằng, đình Yên Đông, cụm di tích đình, chùa Quan Lạn, chùa Long Tiên… Có nơi như Hà Nam, các dòng họ thay vì chờ ngân sách của trung ương và của tỉnh đầu tư, đã vận động con cháu đóng góp để tu sửa các nhà thờ họ (đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia) của mình. Một điều đáng mừng là những năm trở lại đây, cùng với các di sản văn hoá vật thể, nhiều di sản văn hoá phi vật thể giá trị đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm khôi phục lại. Trong đó, đa phần là những di sản văn hoá của các dân tộc thiểu số, như: Lễ hội văn hoá của dân tộc Sán Chỉ (Tiên Yên), lễ hội Soóng Cọ và hội chợ phiên ở xã Húc Động, lễ hội đình Lục Nà, xã Lục Hồn (Bình Liêu), lễ hội Xuống đồng ở xã Phong Cốc, Phong Hải (Yên Hưng)… Trước đó, liên tục từ các năm 1999 tới nay, mỗi năm Sở Văn hoá Thông tin đều thực hiện được một đề án về sưu tầm, lưu trữ di sản văn hoá phi vật thể, là những lễ hội, tục hát dân ca làm tiền đề cho việc bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hoá này về lâu dài. Trong 4 lần tham gia Ngày hội văn hoá các dân tộc 10 tỉnh vùng Đông Bắc, những di sản văn hoá phi vật thể của Quảng Ninh như lễ hội đình Trà Cổ với tục thi “Ông Voi” độc đáo, lễ cấp sắc của người Dao Thanh Y, xã Bình Dân, lễ “Cầu mùa” của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả (Hoành Bồ) luôn nhận được sự đánh giá cao của ban tổ chức và các tỉnh bạn.
Có thể nói, với việc đầu tư, tôn tạo các di tích, cơ sở hạ tầng giao thông, chất lượng dịch vụ không ngừng cải thiện nên những năm qua các di sản văn hoá của Quảng Ninh đã góp phần đáng kể vào thu hút khách du lịch. Lượng khách đến với các di tích như Vịnh Hạ Long, Yên Tử, đền Cửa Ông… năm sau tăng hơn năm trước. Đặc biệt là di tích Yên Tử, với việc khánh thành Chùa Đồng mà lượng khách tới đây trong ba tháng đầu năm 2007 đã tăng vọt gần 200%. Dự kiến, năm nay sau khi hệ thống cáp treo giai đoạn II nối từ chùa Hoa Yên lên An Kỳ Sinh đi vào hoạt động, khu di tích này sẽ còn thu hút khách hơn nữa. Theo thống kê của Sở Du lịch, năm 2001, tổng khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 1.977.600 lượt, đến năm 2006 tăng lên 3.110.000 lượt, tăng bình quân 14%/năm. Chỉ tính 10 tháng đầu năm 2007, lượng khách du lịch đến Quảng Ninh đã đạt 3,2 triệu lượt khách, tăng 20% so với cùng kỳ. Doanh thu từ du lịch năm 2001 đạt 468 tỷ đồng, đến năm 2006 đạt 1.269 tỷ đồng, tăng 27% trong 6 năm. Kết quả đó đã góp phần đáng kể vào thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương nói riêng, của tỉnh nói chung.
Đặc biệt, không chỉ mang lại những hiệu quả về kinh tế- xã hội, thông qua con đường du lịch, những di sản văn hoá mang đặc trưng của vùng đất và con người Quảng Ninh đã từng bước được quảng bá, giới thiệu rộng rãi không chỉ trong nước mà còn ra cả thế giới. Theo ông Phạm Sanh Châu, Vụ trưởng Vụ UNESCO, Bộ Ngoại giao, thì trong quan hệ với thế giới hiện nay, ngoại giao về văn hoá là một mặt trận mới mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng đến sau ngoại giao về chính trị, ngoại giao kinh tế. Bởi trong xu thế toàn cầu hiện nay, văn hoá chính là cầu nối quan trọng đưa các quốc gia xích lại hợp tác với nhau. Quảng Ninh chúng ta đã và đang có một lợi thế lớn là có kho di sản văn hoá vô giá, có Vịnh Hạ Long. Vậy thì chẳng có lý do gì chúng ta lại không tranh thủ lợi thế đó.