Quê hương và thời niên thiếu

LTS: Đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí th­ư Đặc khu uỷ đầu tiên của Khu mỏ Quảng Ninh là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời hoạt động của đồng chí là tấm g­ương sáng ngời về lòng trung thành vô hạn với lý tư­ởng cộng sản. Đồng chí đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí, Báo Quảng Ninh xin giới thiệu những nội dung trong cuốn sách “Đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư­ Đặc khu uỷ đầu tiên Khu mỏ Quảng Ninh” do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Quảng Ninh biên soạn và xuất bản tháng 3-1987.

Đồng chí Vũ Văn Hiếu sinh ngày 20-3-1907 tại ấp Văn Định, xã Quần Phương Thượng, tổng Quần Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nay là xóm Sáu thôn một, xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Nằm giữa khu vực trù phú của đồng bằng Bắc Bộ, quê hương anh Hiếu thật là đẹp với dòng sông Ninh Cơ tươi mát ăm ắp bồi lắng phù xa cho cả một miền Quần Phương. Ngoài triền sông là bãi dâu, bãi ngô nối tiếp nhau mượt mà một màu xanh dịu. Trong đồng là những cánh ruộng màu mỡ “bờ xôi ruộng mật”, mỗi năm cho hai vụ lúa tốt. Nấp sau luỹ tre là những mảnh vườn xum xuê: cam, chanh, chuối... chennhau đón ánh mặt trời. Đất ở đây tốt nhưng người Quần Phương không ỷ lại mà luôn không cho đất nghỉ. Vốn là người lao động ở một xã có ngành nghề, nên ngoài việc đồng áng nhà nào ở Quần Phương cũng ít nhiều làm thêm nghề dệt lụa, chăn tằm. Lụa Đông Biên ở Quần Phương từ lâu đã được nhiềunơi biết đến và ngưỡng mộ. Tuy là nghề phụ, nhưng nghề tằm tang ấy đã giúp dân làng qua được nhiều bước khó khăn, làm cho những cô gái đất Quần Phương thêm đẹp bởi sắc lụa Đông Biên óng ả, mịn màng.

Nhưng quê hương giàu đẹp, đức tính chăm chỉ cũng không giúp cho người Quần Phương tránh khỏi sự nghèo đói, đau khổ dưới ách bóc lột thống trị của bọn thực dân, phong kiến.

Nước mất thì nhà tan, Quần Phương cũng lầm than trong cảnh ngộ chung của cả nước. Mảnh đất, con trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông, nhưng ở Quần Phương hầu hết nông dân đều không có ruộng cầy. Ruộng đất ở đây phần lớn tập trung trong tay bọn địa chủ. Cả xã Quần Phương có hơn 30 tên địa chủ, chúng đã chiếm tới 600 mẫu Bắc Bộ. Trong đó có hai tên địa chủ là tên nghị viên Trần Dụng Hoàn và tên đề đốc Nguyễn Ngọc Đại đã chiếm hơn 300 mẫu, tức là hơn nửa số ruộng của bọn địa chủ trong xã. Do đó, đại đa số nông dân ở Quần Phương phải lĩnh canh ruộng đất của bọn địa chủ để kiếm miếng ăn. Bọn địa chủ, cường hào ở đây vì thế mà tha hồ thi nhau bóp nặn dân bằng tô cao vàlãi nặng. Người nông dân làm quần quật hai sương một nắng nhưng đến lúc gặt hái, thóc lúa chẳng được là bao, vì còn phải nộp vào kho của lũ “thượng Oánh”, “nghị Hoàn”, “đốc Đại”. Làm ra không đủ ăn, nợ năm này qua năm khác, ngày càng trói buộc nông dân vào ách bóc lột, áp bức của bọn địa chủ trong làng.

Nhưng sự bóc lột bằng tô tức của địa chủ trong làng chưa phải là cái khổ nạn cuối cùng của người Quần Phương, mà còn thêm cái tội sưu cao, thuế nặng của chính quyền thực dân là ngọn đòn tàn bạo nhấn người nông dân nghèo khó xuống đáy cùng cực của cuộc đời.

Nhiều gia đình ở xã Quần Phương phải bán hết đồ đạc trong nhà, bán cả con để lấy tiền nộp thuế. Cảnh sống ngạt thở ấy đã đẩy nhiều gia đình bước vào chỗ “tan đàn xẻ nghé”, cha phải vào Nam Kỳ làm phu đất đỏ, anh phải ra mỏ đội than. Họ muốn tránh cuộc đời nghèo đói, nhưng rồi lại rơi vào một cảnh tượng bi thảm: “Sống làm phu mỏ, chết bỏ gốc sim”và “thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”.

Gia đình ông Vũ Văn Giản, người bố của cậu Hiếu, cũng cùng trong cảnh ngộ đó. Nhà đông con, cả nhà gần mười miệng ăn, song không có một mảnh ruộng tư. Ông Giản phải nhận ruộng cấy rẽ của hai, ba tên địa chủ trong ấp. Cảnh nhà đói khổ, mấy anh chị em Hiếu đều lăn lưng ra làm lụng kiếm cháo rau cùng bố mẹ. Tuy còn nhỏ nhưng Hiếu rất chăm làm, nên mới chỉ 7, 8 tuổi cậu đã giúp bố mẹ được việc thu dọn trong nhà, chăn trâu cắt cỏ. Lao động nông gia đã giúp cho cậu Hiếu quý hạt thóc, củ khoai, mến yêu những cô bác, anh chị hàng xóm chân lấm tay bùn.

Là con nhà nghèo nhưng cậu Hiếu rất muốn được học chữ. Cậu ước ao được cắp quyển sách đến trường như những đứa trẻ con nhà giầu trong làng. Nhưng ước muốn vẫn chỉ là ước muốn, vì chạy ăn không đủ thì bố mẹ Hiếu đâu dám nghĩđến chuyện cho con cái học hành. Mỗi khi thấy đôi mắt thơ ngây của Hiếu nhìn lũ trẻ đi học qua nhà mà lòng ông Giản xót xa buồn tủi.

Cảnh nhà càng ngày càng khổ, Hiếu lại có thêm bốn em nhỏ, miệng ăn núi lở. Ông Giản đang gặp khó khăn trong kế sinh nhai, thì có cô em ruột đi ở cho gia đình nghị ái ở tận tỉnh Thái Nguyên, cô có nhan sắc nên hắn lấy làm vợ; vì thể theo ý muốn của vợ và lại hiếm con nên nghị ái muốn đón Hiếu về nuôi và hứa cho Hiếu đi học. Thương con, cha mẹ nào muốn cho con mình làm con nuôi người khác, mà thực chất là cái cảnh làm tôi, làm tớ người ta. Nhưng nghĩ đến cảnh khổ nhà mình, ông Giản đành ngậm ngùi cho cô em gái đón con đi.

Ở nhà của “ông nghị” , nhiều lúc Hiếu thấy buồn tủi, vì Hiếu là con của một người “khố rách áo ôm”, không tránh khỏi sự khinh miệt coi rẻ củalũ người nhìn tất cả xã hội qua lỗ đồng xu. Không chỉ riêng Hiếu, ngay đến thân phận của cô ruột Hiếu cũng là thân phận của người nửa vợ nửa con ở. Nhớ nhà, thương bố mẹ, anh em, Hiếu chỉ còn một cách là dồn mọi thời gian rỗi vào việc học tập. Hiếu học chăm và sáng dạ, chữ nghĩa đã chắp thêm cho cậu đôi mắt để cậu nhìn và hiểu những cái mà xưa nay cậu chưa hề biết. Tuy có sức học hơn người, nhưng cậu Hiếu khiêm tốn, rất thương bạn cùng cảnh ngộ. Hiếu thường hay giúp các bạn học nhất là những môn khó như môn tiếng Pháp, môn toán. Vì vậy Hiếu nghèo nhưng được nhiều bạn mến mộ tin yêu...

(Còn nữa)

Cùng chuyên mục