Sản xuất và cung ứng đủ than cho đất nước

Cuộc đình công của hơn 3 vạn thợ mỏ thuộc Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ đêm 12 rạng sáng ngày 13-11-1936, được bắt đầu từ Cẩm Phả để đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi dân chủ, dân sinh… đã nhanh chóng lan rộng trên cả Vùng mỏ trước sự bàng hoàng, sửng sốt của bọn mật thám, cảnh sát, chủ mỏ, của chính quyền thực dân, làm cho toàn bộ hoạt động của Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ bị đình trệ.

Địch điên cuồng đàn áp nhưng không khuất phục được ý chí và tinh thần đoàn kết đấu tranh của thợ mỏ, phải nhượng bộ và chấp nhận giải quyết toàn bộ yêu sách của công nhân. Cuộc đình công này đã biểu thị ý chí quật cường của những người lao khổ được Đảng lãnh đạo. Đồng thời đã để lại cho tổ chức Đảng và giai cấp công nhân Vùng mỏ bài học to lớn về tập hợp lực lượng; tính kỷ luật trong đấu tranh; sự đùm bọc tương thân, tương ái của những người cùng cảnh ngộ, cùng nghề nghiệp, cùng giai cấp. Nó không chỉ tác động trong phạm vi địa bàn Quảng Ninh, mà còn mở rộng ảnh hưởng, thúc đẩy phong trào cách mạng cả nước và toàn xứ Đông Dương. Ngày 12-11-1936 không những chỉ được ghi vào trang sử vàng của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh mà còn để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam và trở thành ngày Truyền thống Công nhân mỏ - Truyền thống ngành Than, là niềm vinh dự, tự hào của những người thợ mỏ và toàn thể nhân dân Quảng Ninh. Với khẩu hiệu “Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng”, trải qua không biết bao thăng trầm, ngành Than đã đáp ứng thoả mãn các nhu cầu về than của nền kinh tế; đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước nói chung và của Quảng Ninh nói riêng.

 Sản xuất và cung ứng đủ than cho đất nước ảnh 1
Khai thác than lộ thiên ở công trường Công ty CP Than Núi Béo - TKV.
                                               Ảnh: Đại Dương

Kể từ khi thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (1994) sau đó là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (2005), ngành Than đã có sự thay đổi sâu sắc. Cơ sở kỹ thuật, công nghệ, năng lực sản xuất các mỏ, các đơn vị thành viên được nâng cấp và phát triển; hệ thống đường, bến cảng, cơ sở kỹ thuật hạ tầng, nhà làm việc, nhà ở, nhà ăn công trường, nơi nghỉ của người lao động được nâng cấp; điều kiện làm việc trên mỏ lộ thiên cũng như trong mỏ hầm lò được cải thiện đáng kể; thu nhập và đời sống người lao động được nâng cao rõ rệt, con em thợ mỏ được học hành thuận lợi... Nhận thức của người lao động về cơ chế thị trường, về bảo vệ môi trường và pháp luật đã được nâng cao; sản xuất kinh doanh ở mỗi đơn vị thành viên đều phát triển; người lao động ngày càng quan tâm hơn, tham gia nhiều hơn vào công tác quản lý doanh nghiệp và hoạt động xã hội. Các chỉ tiêu sản lượng sản xuất và tiêu thụ đạt mức tăng trưởng cao hơn nhiều so với dự kiến kế hoạch. Mặc dù còn một số bất cập nhưng 16 năm qua, ngành Than luôn có những bứt phá ngoạn mục trong sản xuất kinh doanh, sản lượng than thương phẩm tăng trưởng bình quân 12%/năm. Nếu như năm 1994 sản lượng than chỉ mới hơn 5 triệu tấn/năm đời sống công nhân mỏ vô cùng khó khăn, môi trường ô nhiễm nghiêm trọng thì chỉ 3 năm sau ngành Than đã đưa sản lượng đạt trên 10 triệu tấn; năm 2003 sản lượng đạt 16 triệu tấn, năm 2004 đạt 25 triệu tấn, năm 2005 đạt 31 triệu tấn, năm 2007 đạt 41 triệu tấn, năm 2009 đạt 44,5 triệu tấn, tăng trên 8 lần so với năm 1994. Hoạt động kinh doanh đa ngành của TKV được xoay quanh công nghiệp mỏ để tạo ra các chuỗi giá trị gia tăng: Khai thác than gắn liền với đầu tư, xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt than nhiệt lượng thấp, đầu tư hoá than (hoá than thành amoniac, axitnitric để sản xuất nitrat amon). TKV cũng phát triển các mỏ khoáng sản kim loại gắn với xây dựng các nhà máy luyện kim và các xưởng hoá chất đi kèm; khai thác các mỏ khoáng sản phi kim như đá vôi, đất sét, phụ gia để sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng; đẩy mạnh sản xuất cung ứng vật liệu nổ công nghiệp; phát triển ngành cơ khí theo hướng chế tạo máy mỏ, phương tiện vận tải thuỷ, lắp ráp xe tải nặng, xe chuyên dùng; không ngừng phát triển dịch vụ địa chất, khoa học công nghệ, tư vấn đầu tư, thương mại, du lịch, hàng hải; tăng cường xây lắp công trình mỏ, luyện kim, dịch vụ môi trường, đầu tư bất động sản, nhất là việc phát triển nhà ở cho công nhân và cơ sở vật chất, kỹ thuật của tập đoàn… trong đó than chiếm xấp xỉ 60%.

Có thể nói những giải pháp lớn giúp TKV đứng vững và phát triển trong thời gian vừa qua chính là đã xây dựng được hệ thống chính trị vững mạnh, nội bộ đoàn kết; phát huy cao độ truyền thống kỷ luật và đồng tâm của thợ mỏ; cán bộ chủ chốt gương mẫu, thạo việc, tính kỷ luật cao. Xác định đúng chiến lược và quán triệt trong toàn bộ hệ thống, kiên trì và quyết tâm thực hiện chiến lược; luôn tạo ra và duy trì động lực thúc đẩy khai thác tiềm năng, phát huy nội lực. Chủ động đề đạt với các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương về các chủ trương, mục tiêu chiến lược, về các khó khăn vướng mắc và đề xuất giải pháp tháo gỡ, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, giúp đỡ của cấp trên, của địa phương; tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, sự hợp tác có hiệu quả của các đối tác, bạn hàng trong nước và nước ngoài. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, tổ chức một cách sáng tạo phong trào thi đua yêu nước ở mỗi đơn vị thành viên và toàn ngành.

Với chiến lược kinh doanh “Từ tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực đi lên giàu mạnh” và phương châm hành động “thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; hài hoà với địa phương và cộng đồng; hài hoà với đối tác và bạn hàng; hài hoà giữa các công ty thành viên và người lao động”. TKV phấn đấu là nhà sản xuất và cung cấp than chính của nền kinh tế (thực hiện nhiệm vụ đầu tư sản xuất than ở trong, nước ngoài và đầu mối nhập khẩu than); sản xuất và cung ứng điện (đạt khoảng 20% tổng công suất nguồn điện quốc gia sau năm 2025); các sản phẩm được khai thác và chế biến từ quặng bôxit và quặng titan (alumin, hydrat nhôm, nhôm thỏi pigment, titan xốp, titan kim loại...); vật liệu nổ công nghiệp. Các sản phẩm thép, kim loại màu, hoá chất, nhiên liệu lỏng, vật liệu xây dựng, đất hiếm; chế tạo máy (máy mỏ, xe tải nặng, xe chuyên dụng, phương tiện vận tải thuỷ) và nhà tổng thầu EPC; cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, cung cấp dịch vụ y tế chữa bệnh nghề nghiệp bụi phổi, cung cấp các dịch vụ thương mại, tài chính, du lịch, địa chất, khoa học công nghệ, tư vấn đầu tư, xuất khẩu lao động, vận tải, hàng hải... 

Cùng chuyên mục