Trong 47 tác giả văn học mới được trao giải thưởng nhà nước vào 10-3-2007 vừa qua, nhà thơ Trần Nhuận Minh là một trong số đó, với 2 tác phẩm Nhà thơ và hoa cỏ và Bản Xônát hoang dã.
Như vậy, Nhà thơ Trần Nhuận Minh là tác giả thứ 2 của Quảng Ninh (sau cố nhà văn Võ Huy Tâm) được trao tặng giải thưởng cao quý này. Gặp ông khi vừa trở về từ lễ trao giải, chúng tôi đã được nhà thơ tâm sự khá nhiều về những tác phẩm đoạt giải của mình...
Nhà thơ Trần Nhuận Minh
Các bài thơ trong tập Nhà thơ và hoa cỏ chủ yếu được sáng tác từ năm 1986 đến năm 2000, in lần đầu tiên năm 1993. Sau đó được liên tục tái bản và bổ sung. Trong đó, có một số bài viết trước khi đất nước đổi mới, nhưng lúc đó không được duyệt in như bài Tiễn Bạn ở rạp chiếu bóng...
Trong việc phản ánh hiện thực, điều quan trọng nhất là thái độ của tác giả, ở đây là sự chia sẻ, đồng cảm của người trong cuộc. Như việc xử lý oan một cán bộ đảng trong cải cách ruộng đất chẳng hạn. Một thời đã diễn ra như thế, mình vừa là nạn nhân đồng thời cũng là thủ phạm. Ở thời điểm ấy, chính mình cũng cho việc xử lý như thế là đúng. Tâm thức lúc bấy giờ là như vậy, vừa chân thành vừa đơn giản. Trong việc này không ai có lỗi cả. Ngay cả cuộc chiến tranh biên giới cũng là một điều vô cùng đau xót đối với tình nghĩa ruột thịt của hai Quốc gia. Dù hiện tại và tương lai là rất tốt đẹp, nhưng cuộc chiến tranh ấy vẫn được ghi vào sách giáo khoa lịch sử cho học sinh phổ thông học, chứng tỏ chúng ta không quên xương máu của biết bao đồng bào, chiến sĩ đã đổ ra...
Có một điều thú vị là Nhà thơ và hoa cỏ và Bản Xônát hoang dã ra đời cách nhau đúng 10 năm, mỗi tập lại đứng ở đầu mút một xu hướng sáng tạo riêng. Nhà thơ và hoa cỏ là xu hướng hiện thực theo tinh thần hiện thực nghiệt ngã và nghiêm ngặt (hiện thực được phản ánh hoàn toàn trung thực, không có bất cứ một sức ép nào và cũng không né tránh bất cứ một điều gì). Với riêng tôi thì Nhà thơ và hoa cỏ đã đi đến tận cùng của xu hướng hiện thực, bản thân tôikhông thể vượt qua được nữa. Vì thế, tôi cũng nghĩ là mình không thể tiếp tục xu hướng thơ này khi không còn gì để sáng tạo thêm, những điều cần nói tôi cũng đã nói hết, thậm chí cả những vấn đề về triết học, nhân sinh, cả quan điểm về thơ...
Bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ có những bước ngoặt chưa từng có khi chúng ta hội nhập với thế giới không phân biệt chính kiến, quá khứ, tôn giáo... tập trung toàn bộ cho công cuộc xây dựng đất nước. Thế kỷ XXI như nhiều nhà nghiên cứu nhận định là thế kỷ của văn hoá tâm linh. Nhiều học giả đã có những công trình khoa học lý giải về tâm linh, sự tồn tại của con người trong cõi vô cùng. Những điều ấy mở ra cho tôi một tầm tư duy mới vàâ Bản Xônat hoang dã đã ra đời.
Bản Xônát hoang dã là bước đổi mới hoàn toàn so với chính thơ tôi và cũng là một bước đi khác của thơ Việt Nam đầu thế kỷ. Về chính trị, nó khẳng định và ca ngợi chủ nghĩa nhất nguyên. Về tư tưởng, nó thống nhất các mặt đối lập (để thể hiện chủ nghĩa nhất nguyên trong thơ). Bạn đọc tác phẩm sẽ thấy rất rõ điều này. Câu thơ trước nói cái chết thì câu sau nói sự sinh đẻ, câu một nói chim bay ở trên trời thì câu hai nói cá lượn ở dưới nước. Có khi vui và buồn, có và không, được và mất, mùa hạ và mùa đông... ở trong cùng một câu thơ. Về Triết học, là triết học cổ điển Phương Đông, nền tảng là triết học Phật Giáo mà cơ sở chủ yếu rút ra từ Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ ở Yên Tử. Như vậy, về nội dung tư tưởng là vô cùng truyền thống. Ngược lại, về hình thức nghệ thuật thì hoàn toàn phi truyền thống, ở đây các thể thơ truyền thống hoàn toàn bị loại khỏi cuộc chơi... và ném ra một thể cách khoáng đạt, phá vỡ mọi bờ be cổ điển như có nhà phê bình văn học đã nhận xét. Toàn tập là thơ không vần, câu dài ngắn không hạn định, mở và kết đều bất ngờ... chỉ đặc biệt chú ý đến nhịp điệu, hình ảnh và cấu trúc nội tại của thơ. Nếu ở Nhà thơ và hoa cỏ, tôi cố gắng đi đến tận cùng của cái thực, thì ở Bản Xônát hoang dã, tôi cố gắng đi đến tận cùng của cái ảo, theo quan niệm của mình. Nó là cái bóng của đời sống, cái hồn của hiện thực, là sự khúc xạ của đời sống hiện thực trong ánh phản quang huyền ảo của tâm thức như một câu thơ tôi đã viết ở cuối tập. Tôi có ý thức đưa hình thức cấu trúc âm nhạc của thể xônát (Sonata) vào thơ. Tôi cố gắng thử soạn một bản nhạc bằng lời... Còn đạt được đến đâu là sự phán quyết của bạn đọc và của thời gian...
Trong các tác phẩm văn học được tặng Giải thưởng Nhà nước đợt này thì đây là tác phẩm văn chương duy nhất được sáng tác ở đầu thế kỷ XXI. Tôi rất mừng vì thời gian để nó được chấp nhận không phải chờ đợi quá lâu như tôi tưởng. Viết và in năm 2003, năm 2004, được Tặng thưởng Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam. Có năm, Giải thưởng chuyên ngành này cho mỗi thể loại chỉ có 1 tập được Giải thưởng và 1 tập được Tặng thưởng. Sau gần 2 năm bình xét và thẩm định lại, bản Xônát bằng lời của tôi đã được công nhận. Đấy là điều vui mừng lớn nhất của tôi khi về Hà Nội nhận Giải thưởng này...
Bạn hỏi sau những khám phá cố gắng đi tới tận cùng của cái thực và cái ảo trong hai tập thơ này thì tôi sẽ làm gì ư?Tôi đang làm một tập văn xuôi mang tên Cõi Người. Tôi cũng sẽ cố gắng tìm tòi sáng tạo để có khám phá mới từ chính bản thân mình, từ chính cuộc sống quanh mình. Tôi rất thich hai câu trong Kinh Thánh mà tôi ghi ở đầu tập Bản Xônát hoang dã: Hãy gõ cửa rồi cửa sẽ mở/ Hãy tìm rồi người sẽ gặp... Tôi đang tìm và đã gõ cửa... Còn cửa có mở không và tôi có gặp được điều tôi mong muốn hay không thì tôi không dám nói trước.