Sự tài hoa của người Quảng Ninh

Cư dân Quảng Ninh là sự hoà trộn giữa người bản địa và người nhập cư, chủ yếu là ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đến, như là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam. Điều đó đã tạo thêm sức mạnh cho Quảng Ninh trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đồng thời làm cho văn hoá Quảng Ninh nói chung, kiến trúc nghệ thuật nói riêng vừa có sự hoà trộn với cái chung của đồng bằng Bắc Bộ, vừa có những nét riêng của một vùng đất biển đảo cửa ngõ Tổ quốc.

Hệ thống di tích kiến trúc cổ Quảng Ninh ra đời, tồn tại qua các thời kỳ phát triển của lịch sử dân tộc, còn lại đến nay chủ yếu là từ thời Lý đến thời Nguyễn, đa dạng về loại hình, kiểu dáng, sử dụng vật liệu tại chỗ, nghệ thuật điêu khắc phong phú, tài hoa. Căn cứ vào mục đích sử dụng và kiểu dáng kiến trúc, có thể chia hệ thống kiến trúc cổ Quảng Ninh thành ba loại hình:

- Kiến trúc thờ cúng (Thờ Thành hoàng, thờ cúng tổ tiên...) có đình làng, miếu, từ đường dòng họ...

- Kiến trúc tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo...) có chùa, tháp, am, nhà thờ đạo Thiên chúa...

Kiến trúc tưởng niệm, gồm hệ thống đền thờ các nhân thần, như đền An Sinh (Đông Triều), đền Trần Hưng Đạo (Yên Hưng), đền Cửa Ông (Cẩm Phả)...

- Kiến trúc nhà ở (kể cả công sở). Loại hình kiến trúc này đã bị mai một theo thời gian, hiện chỉ còn lại phế tích như nền nhà, đá tảng chân cột, v.v..

Tính đa dạng trong kiến trúc cổ Quảng Ninh không chỉ thể hiện ở nhiều loại hình, mà trong từng loại hình cùng thời hoặc khác thời, ở các địa phương khác nhau cũng không giống nhau về qui mô, kiểu dáng và nghệ thuật điêu khắc. Cũng là đình, nhưng đình Phong Cốc (Yên Hưng) bề thế, khoẻ chắc, có qui mô lớn nhất Quảng Ninh, trái lại đình Trà Cổ nằm sát ở địa đầu biên giới phía Bắc lại duyên dáng, uyển chuyển, cổ kính, mang dáng dấp mô phỏng của một nhà sàn. Cũng là hệ thống 11 chùa trong khu di tích Yên Tử nhưng qui mô, kiểu dáng mỗi chùa đều có những nét riêng, không giống nhau, được tạo dựng phù hợp với cảnh quan núi rừng, khe suối như những bức tranh sơn thuỷ.

Chủ nhân của những công trình kiến trúc cổ Quảng Ninh từ xa xưa đã có ý thức khai thác và sử dụng vật liệu phong phú tại chỗ để xây dựng. Đó là các loại gỗ, mà chủ yếu là gỗ lim, dồi dào trong các cánh rừng Đông Bắc ngày xưa, là đá hoa cương để làm chân cột, xây kè, tạc các công trình điêu khắc, là đất sét để làm gạch ngói, trong đó có những vật liệu quý, sang trọng như đồng, gạch lưu li, gạch hoa cúc...

Điêu khắc trong các công trình kiến trúc cổ Quảng Ninh đa dạng về phong cách, phong phú về đề tài được thể hiện trên ba loại chất liệu chủ yếu là gỗ, đá và đồng. Điêu khắc gỗ nổi bật với những bức chạm khắc kỳ công, đường nét uyển  chuyển, nhiều tầng lớp trên các bức cửa võng, bức cốn, đầu xà... trong các đình chùa. Điêu khắc gỗ cũng để lại hàng loạt pho tượng lớn nhỏ thờ các nhân thần thờ Phật trong các đình, chùa, đền. Điêu khắc đá để lại dấu ấn không thể phai mờ trong các tháp đá, bia đá, tượng đá ngoài trời, trong đó có những công trình nổi tiếng như Tháp Tổ (Yên Tử), quần thể bia, tháp Ngoạ Vân (Đông Triều), quần thể sấu đá và tháp đá Quỳnh Lâm (Đông Triều)... Điêu khắc đồng nổi tiếng có tượng Di Lặc xây dựng từ đời Trần tại chùa Quỳnh Lâm, cao 5m, được liệt vào hạng ‘’Tứ đại khí’’ của quốc gia Đại Việt, nhưng nay không còn. Điêu khắc đồng còn lại đến nay chủ yếu là đồ tế khí trong các đền, chùa như chuông, tượng, lư hương, chân đèn... vừa mang ý nghĩa tâm linh, vừa có giá trị nghệ thuật cao.

Một đặc trưng dễ nhận ra là hệ thống di tích kiến trúc cổ Quảng Ninh mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Điều đó một phần được thể hiện trong hệ thống kiến trúc cổ Quảng Ninh, về cơ bản không khác mấy với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Bố cục, kiểu dáng kiến trúc phổ biến của đình làng là chữ ‘’công’’ với hai dãy tiền đường và hậu cung song song. Nối tiền đường và hậu cung có ống muống. Đình có bốn mái hình thang cân lợp ngói cổ, xoè ra như bốn chiếc quạt lớn với bốn đầu đao cong vút. Trên bờ nóc đắp nổi hai con rồng uốn lượn châu đầu vào hình mặt trời lấp lánh. Chùa có dạng kiến trúc phổ biến hình chữ ‘’đinh’’, bốn mái lợp ngói mũi hài. Nghệ thuật điêu khắc trong các đình làng Quảng Ninh có chung một mô típ quen thuộc như đình làng Bắc Bộ. Hình tượng chạm khắc là long, ly, qui, phượng, trúc, mai, là tiên cưỡi rồng bay trong mây, được bố cục chặt chẽ, khéo léo, hài hoà, đường nét chạm trổ tinh tế, mềm mại, khiến cho người xem không khỏi trầm trồ, thán phục. Hệ thống tượng bằng gỗ, bằng đá, bằng đồng qui mô, kiểu dáng phong phú, đặc biệt tượng thờ nhân thần trong đình, đền khá sống động, là kho báu về nghệ thuật điêu khắc cổ Quảng Ninh.
Thế nhưng, trong sự giống nhau ấy, hệ thống kiến trúc cổ Quảng Ninh cũng có những yếu tố tìm tòi, sáng tạo độc đáo. Trong khi tuyệt đại bộ phận đình, chùa ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và nhiều địa phương khác ở Quảng Ninh có mặt cắt ngang hình chữ ‘’công”, chữ ‘’đinh’’ thì chùa Nam Thọ (Móng Cái), cùng với vẻ cổ kính, nguyên sơ, lại có bố cục khác lạ. Đó là bố cục hình vuông theo kiểu chữ ‘’hồi’’ như là biểu tượng của vòng luân hồi bất tận, rất hiếm thấy trong kiến trúc Việt Nam. Kết cấu thường gặp trong đình, chùa Bắc Bộ là cột, kèo bằng gỗ lim. Nhưng ở chùa Xuân Lan (Móng Cái) có kết cấu khác hẳn. Đó là sự kết hợp khéo léo giữa cột bằng đá và vì kèo bằng gỗ. Với tổng số 32 cột đá xanh hình bát giác, thớ mịn, đẽo gọt công phu, chân cột đục liền thân, đáy tròn, đỡ các bộ vì kèo bằng gỗ, lắp khít vào các mộng, khiến cho ngôi chùa trở nên chắc khoẻ, làm tăng thêm tuổi thọ công trình. Điều đặc biệt ở đình Trà Cổ (Móng Cái) khác với những ngôi đình ở Bắc Bộ và các địa phương khác ở Quảng Ninh là nền đất hoặc lát gạch, ở đình Trà Cổ cách nền đất 0,5m là hệ thống sàn gỗ trải rộng kín mặt nền. Giữa lòng đình sàn có ba lớp thấp dần từ ngoài vào gian giữa, mỗi lớp cách nhau 0,2m. Độ cao thấp của mặt sàn từng gian đình là chỗ phân biệt ngôi thứ trong làng mỗi khi làng có hội hè, tế lễ. Sàn gỗ đình Trà Cổ là kiểu kiến trúc độc đáo, mô phỏng loại hình nhà sàn của người Việt cổ cũng như của người Trà Cổ đầu tiên đến đất này khai phá.

Sự tìm tòi, sáng tạo trong kiến trúc cổ Quảng Ninh không chỉ biểu hiện ở bố cục, kiểu dáng, chất liệu và kết cấu công trình, mà cả trong nghệ thuật điêu khắc. Quần thể 53 tượng phật thờ ở chùa Nam Thọ là một ví dụ điển hình về sự tìm tòi, sáng tạo ấy không theo một mô típ quen thuộc là Phật thì nét mặt phải từ bi, tai dài, trán rộng, các pho tượng Phật thế kỷ XVI, XVII, XVIII thờ ở chùa Nam Thọ được khắc hoạ mang tính nghệ thuật cao, không chỉ đẹp về vóc dáng, mà còn lột tả được nội tâm với những sắc thái, cung bậc đa dạng, phức tạp, ẩn giấu một thân phận, số kiếp không giống nhau, có sức gợi cảm và hấp dẫn. ở đình Phong Cốc, nét đặc sắc trong tìm tòi, sáng tạo là sự táo bạo của người thợ điêu khắc vốn là tầng lớp bình dân, đưa các đề tài dân dã vào các mảng điêu khắc như đấu gà chọi, mèo bắt cá, trai gái tự tình... Đưa hình tượng trần tục vào các bức chạm ở chốn đình trung, nơi được coi là thiêng liêng, nơi các vị chức sắc, trưởng lão tế lễ, hội họp, là sự dũng cảm, táo bạo của tầng lớp bình dân không chỉ phá vỡ những mô típ chạm khắc cổ điển trong đình chùa, làm phong phú thêm bằng những hình tượng mới mẻ, gần gũi, đầy sức sống, mà còn gián tiếp bộc lộ khát vọng tự do trong tình yêu và cuộc sống, chống lại lễ giáo phong kiến hà khắc.

Cùng chuyên mục