Sư Tuệ - Nhà sư cách mạng

Nhắc đến những người có công thành lập Chiến khu Đông Triều (hay còn gọi là chiến khu Trần Hưng Đạo, Đệ tứ Chiến khu), ngoài những chiến sỹ cách mạng như Nguyễn Bình, Hải Thanh, Nguyễn Công Hòa, Trần Cung v.v. không thể không nhắc đến Nguyễn Văn Tuệ (tức Nguyễn Kiên Tranh), một chiến sỹ cách mạng trong vai nhà sư ở chùa Bắc Mã (xã Bình Dương, huyện Đông Triều).

Đình Hổ Lao, nơi diễn ra cuộc mít tinh thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo 8-6-1945. Ảnh tư liệu

Đình Hổ Lao, nơi diễn ra cuộc mít tinh thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo 8-6-1945.
                                                      Ảnh tư liệu

Sư Tuệ sinh năm 1911, quê ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, sinh quán tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Cuối tháng 3-1945, sau khi trốn khỏi nhà giam của thực dân Pháp tại Nam Định, đang bị địch truy bắt ráo riết, ông được tin đồng chí Hải Thanh (tức Nguyễn Văn Doanh), một chiến sỹ cách mạng mà ông từng quen biết gần chục năm trước,cũng đã vượt ngục, trốn khỏi nhà tù Nghĩa Lộ, hiện đang hoạt động tại quê nhà là tỉnh Hải Dương. Ông liền tìm về nhà đồng chí Hải Thanh để bắt mối liên lạc với cách mạng.

Sau khi gặp gỡ và bàn bạc phương hướng hoạt động với đồng chí Hải Thanh, ông đã đi Đông Triều, nơi có địa thế rừng núi hiểm trở, thuận tiện cho tác chiến du kích, để gây dựng cơ sở Việt Minh, còn Hải Thanh ở lại chờ bắt liên lạc với Đảng rồi sẽ vào sau…

Đông Triều lúc bấy giờ bọn thổ phỉ hoành hành, cướp bóc dữ dội. Và để dễ bề hoạt động, ông quyết định đến Chùa Phương Mỹ (Thủy Nguyên, Hải Phòng) nhờ sư cụ Lương Ngọc Trụ, một người yêu nước, giúp cho bộ quần áo nhà chùa và “xuống tóc” thành một sư bác... (Vì thế, nhân dân quanh vùng sau này vẫn quen gọi ông là sư Tuệ). Bắt mối liên lạc được với cơ sở Việt Minh ở vùng Phương Mỹ và Câu Tử, Kinh Môn (Hải Dương) xong, sư Tuệ trở lại Đông Triều, đến thẳng chùa Bắc Mã (một ngôi chùa cổ ở xã Bình Dương ngày nay). Trụ trì chùa này là sư cụ Võ Giác Thuyên, một người có lòng yêu nước, khí khái, rất có uy tín trong giới tăng ni và các hào mục trong vùng.

Đến chùa Bắc Mã, sư Tuệ đã chinh phục được cảm tình củanhà sư Võ Giác Thuyên, được sư Thuyên cử đi dự một cuộc họp của các chánh tổng, phó tổng, bá hộ trong vùng bàn chuyện chống phỉ. Tại đây, bằng tài diễn thuyết của mình, sư Tuệ đã kêu gọi các thân hào, thân sỹ v.v. tổ chức thanh niên tự vệ ở các làng, các trại và vận động mọi người dân cùng góp công, góp của, tham gia… Trên cơ sở đó, sư Tuệ đã khéo tranh thủ tuyên truyền về đường lối chống Nhật cứu nước của Vệt Minh, vận động mọi người tham gia vào các tổ chức cứu quốc của Việt Minh. Những ngày sau đó, sư Tuệ liên tục đi tuyên truyền, gây dựng cơ sở Việt Minh ở làng Bắc Mã và các làng lân cận… Hoạt động của các tổ chức cứu quốc do sư Tuệ gây dựng ngày càng rộng và hoạt động khá sôi nổi, với nhiệm vụ cấp bách trước mắt là chống phỉ và cứu đói cho dân! Lúc này, đồng chí Nguyễn Bình (tức Nguyễn Phương Thảo), một cán bộ do Xứ ủy Bắc Kỳ cử đến, cũng đã có mặt tại chùa Bắc Mã. Cùng với Nguyễn Bình và một số cán bộ trong đường dây Việt Minh do Nguyễn Bình phụ trách từ các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương v.v. đưa đến, sư Tuệ đã đóng góp rất nhiều công lao trong việc xây dựng các tổ chức cứu quốc ở Đông Triều.Các tổ thanh niên, học sinh cứu quốc chia nhau đi quyên tiền, xin thóc, gạo của những nhà giàu, có lòng hảo tâm về nấu cháo để chia cho những người đang kiệt sức vì đói ở các khu công cộng. Mặt khác, trai tráng ở các làng cũng được tổ chức vào các đội tự vệ, với vũ khí thô sơ là giáo, mác v.v. để chống lại sự cướp bóc của bọn phỉ… Từ đó, uy tín của Việt Minh ngày càng cao trong lòng người dân.

Cho tới trung tuần tháng 4-1945, cuộc chiến tranh thế giới đã ở vào giai đoạn bại vong của phát xít Đức, từ ngày 15 đến 20-4, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (được tổ chức tại Bắc Giang) xác định: Nhiệm vụ quan trọng và cần kíp nhất lúc này là phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, chuẩn bị điều kiện để tổng khởi nghĩa khi có thời cơ! Tại Hội nghị này, việc thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo, chiến khu thứ tư ở vùng Duyên hải Bắc Kỳ đã được đề ra. Đại bản doanh của Chiến khu chính là chùa Bắc Mã, nơi sư Tuệ, Nguyễn Bình và một số cán bộ cách mạng đã gây dựng cơ sở của Việt Minh từ trước. Để rồi, chỉ sau hơn một tháng, ngày 8-6-1945, từ đây, quân cách mạng đã tiến công Đồn Cao (thị trấn Đông Triều) và một số điểm khác ở Mạo Khê, Chí Linh… mở rộng căn cứ địa, làm bàn đạp để trong giai đoạn Tổng khởi nghĩa, tiến về giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên vào ngày 21-8-1945, cũng như hỗ trợ để các địa phương khác trong vùng Duyên hải Bắc Kỳ như Hải Phòng, Hải Dương, Khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả v.v. cướp chính quyền. Nói cách khác, Chiến khu Trần Hưng Đạo chính là điểm khởi đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc giành chính quyền về tay cách mạng ở vùng Đông Bắc Tổ quốc.

Và trong số những người đầu tiên gây dựng cơ sở cách mạng, tiền thân của Chiến khu Trần Hưng Đạo, có nhà sư cách mạng Nguyễn Văn Tuệ!

Cùng chuyên mục