Tăng cường bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giữ gìn hệ sinh thái biển

Để ngăn chặn các hành vi khai thác thủy sản trái quy định, tăng cường bảo vệ hệ sinh thái biển, Quảng Ninh đang hoàn thiện quy định về nghề, ngư cụ cấm và khu vực cấm khai thác có thời hạn, qua đó tăng hiệu lực quản lý, tạo điều kiện phục hồi nguồn lợi và phát triển thủy sản bền vững.

Quảng Ninh có đường bờ biển khoảng 250km, vùng biển rộng trên 10.600km² với hơn 2.000 hòn đảo. Không gian biển đa dạng với vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, các bãi triều, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và nhiều khu vực cửa sông là nơi sinh sống, sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế và bảo tồn.

Tuy nhiên, cùng với hoạt động khai thác thủy sản, tại một số khu vực, nguồn lợi có xu hướng suy giảm. Một số nơi vẫn còn tình trạng sử dụng nghề, ngư cụ mang tính hủy diệt, khai thác trong mùa sinh sản, tại các khu vực tập trung sinh sản, sinh trưởng hoặc sử dụng phương thức khai thác không thân thiện với môi trường. Những hoạt động này tác động trực tiếp đến khả năng tái tạo nguồn lợi và cân bằng hệ sinh thái biển.

Tỉnh Quảng Ninh đã quy hoạch và hình thành các vùng nuôi biển. Ảnh: Hải Hà
Tỉnh Quảng Ninh đã quy hoạch và hình thành các vùng nuôi biển. Ảnh: Hải Hà

Trước tình hình đó, tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường dự thảo Quyết định ban hành Danh mục nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản và Danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn ở vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa. Đây được xác định là giải pháp quan trọng nhằm tăng hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh, phục hồi và tái tạo nguồn lợi.

Theo dự thảo, tỉnh sẽ ban hành hai danh mục áp dụng tại vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa: Danh mục nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản và danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn. Trong đó, danh mục nghề, ngư cụ cấm dự kiến gồm 5 nhóm: Nghề lưới kéo (trừ lưới kéo moi/ruốc); nghề lồng xếp (lờ dây, bát quái, dớn, lừ); nghề kết hợp ánh sáng (trừ nghề câu tay mực); các nghề đáy, xăm, chấn, xiệp, xịch, te, xẻo kết hợp với tàu có gắn động cơ; nghề cào đáy bằng khung sắt kết hợp với tàu, máy kéo, bơm thổi như cào lươn, cào nhuyễn thể, banh lông. Phạm vi cấm được xác định cụ thể theo từng nghề, ngư cụ tại vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa. Đối với khu vực cấm khai thác có thời hạn, dự thảo xác định vùng biển ven đảo Cô Tô là một trong những khu vực cần áp dụng biện pháp bảo vệ theo mùa với thời gian cấm dự kiến từ ngày 1/4 đến ngày 30/6. Khu vực cấm khai thác có thời hạn tập trung vào những không gian có ý nghĩa đối với quá trình tái tạo nguồn lợi, như khu vực tập trung sinh sản, nơi có mật độ trứng cao, khu vực tập trung cá con, tôm con, ấu trùng hoặc tuyến di cư sinh sản của các loài thủy sản.

Để quy định sau khi ban hành được thực hiện nghiêm, thống nhất và phát huy hiệu quả, dự thảo thiết lập rõ trách nhiệm quản lý, kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, gắn với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi, bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái thủy sinh. Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì triển khai, tuyên truyền, phổ biến quy định; tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm. Đồng thời, Sở có trách nhiệm thường xuyên rà soát, đánh giá hiện trạng nguồn lợi để kịp thời tham mưu điều chỉnh, bổ sung danh mục nghề, ngư cụ cấm và khu vực cấm khai thác có thời hạn khi cần thiết.

Các lực lượng liên quan sẽ cùng chính quyền cấp xã, phường, đặc khu tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm trong hoạt động khai thác. Tại cơ sở, UBND các xã, phường, đặc khu tổ chức quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản; phối hợp xác định, quản lý các khu vực cấm khai thác có thời hạn, cắm biển báo, thông báo công khai và hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện. Các địa phương cũng được khuyến khích xây dựng, phát triển mô hình đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Việc hoàn thiện và đưa các quy định vào thực tiễn sẽ góp phần chuyển mạnh từ khai thác đơn thuần sang khai thác có trách nhiệm, bảo vệ đi đôi với phục hồi và tái tạo nguồn lợi. Qua đó, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, gắn phát triển kinh tế biển với bảo tồn giá trị sinh thái lâu dài.

Cùng chuyên mục