Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Thu, chi đều vướng

Từ năm 2015, Quảng Ninh bắt đầu triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Với sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh, sự nỗ lực của đội ngũ chuyên môn, công tác thu tiền DVMTR và chi trả đến các đối tượng được thụ hưởng đã bắt đầu đi vào nề nếp, đúng đối tượng. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm triển khai cho thấy phát sinh nhiều vướng mắc.

Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm, năm 2015 tỉnh triển khai thu phí DVMTR ở 3 đối tượng: Nước sạch (Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh), thuỷ điện (Thuỷ điện Khe Soong, Tiên Yên) và du lịch dịch vụ (Công ty CP Phát triển Tùng Lâm). Tính đến tháng 4-2016, đã có 2 đơn vị là Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh và Thuỷ điện Khe Soong đóng quỹ với tổng thu gần 1,65 tỷ đồng. Công ty CP Phát triển Tùng Lâm chưa đóng quỹ do còn đề xuất tính toán lại mức thu (theo quy định là từ 1-2%). Toàn bộ phần thu 2015 này đã được chi trả đúng theo quy định, trong đó chi trả trên 456 triệu đồng/gần 110.000ha rừng cho nhóm đối tượng I (hộ gia đình, cộng đồng, UBND cấp xã); chi trả gần 928 triệu đồng cho nhóm đối tượng II (ban quản lý rừng và công ty lâm nghiệp); còn lại là chi phí quản lý và quỹ dự phòng.

Cán bộ Ban Quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử thực hiện khảo sát trữ lượng rừng.
Cán bộ Ban Quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử thực hiện khảo sát trữ lượng rừng.

Theo ông Phạm Văn Thanh, cán bộ Phòng Sử dụng và Phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm, hiện tổng thu phí DVMTR trên địa bàn tương đối thấp. Việc này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nhiều cơ sở công nghiệp có sử dụng trực tiếp từ nguồn nước mặt, ngầm, vốn là các đối tượng phải nộp phí DVMTR, nhưng chưa thực hiện, do đến thời điểm này chưa có hướng dẫn cụ thể của các bộ, ngành liên quan. Ðây là vướng mắc lớn, ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách chi trả DVMTR, bởi Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp, số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sử dụng trực tiếp nguồn nước mặt, ngầm không nhỏ, đặc biệt là công nghiệp khai thác khoáng sản, sản xuất điện, xi măng... Một số đơn vị khai thác và sử dụng nước ngầm, mua nước ngầm từ các hồ chứa nước chưa thực hiện hợp đồng uỷ thác để tính toán nộp phí DVMTR. Công tác triển khai đối với các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch, mặc dù đã đến đúng đối tượng và có quy định về mức thu là từ 1-2% doanh thu, song chưa có hướng dẫn cụ thể về đối tượng nào được ở mức 1%, đối tượng nào ở mức 2%. Bởi vậy, một số doanh nghiệp viện vào lý do này để chưa thực hiện ký kết hợp đồng và kê khai nộp tiền.

Bên cạnh đó thì mức phí DVMTR đang thu của các cơ sở sản xuất thuỷ điện và cung cấp nước sạch hiện còn thấp so với quy định và chưa theo kịp cơ cấu giá thành điện, nước trong thực tế (hiện với thuỷ điện đang thu ở mức 20 đồng/kwh; cơ sở cung cấp nước sạch thu ở mức 40 đồng/m3). Ðiều đáng nói là trong khi tổng thu phí DVMTR hiện còn nhỏ, song diện tích chi trả, đối tượng thụ hưởng lớn. Theo tính toán của cơ quan chuyên môn, hiện có 12.275 hộ gia đình, 85 cộng đồng, 74 UBND xã (thuộc nhóm I); 13 ban quản lý rừng và công ty lâm nghiệp (thuộc nhóm II) là đối tượng được chi trả theo chính sách DVMTR. Tuy nhiên năm 2015, từ tổng thu có được (gần 1,65 tỷ đồng) thì mức được chi trả cho các đối tượng trên rất thấp, trung bình đạt 8.537 đồng/ha rừng; trong đó nhóm I hưởng 4.299 đồng/ha, nhóm II hưởng 17.125 đồng/ha. Bởi vậy,  năm 2015 UBND tỉnh chỉ đạo chi trả phí DVMTR tới các ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp, UBND các xã để bổ sung vào kinh phí bảo vệ rừng hàng năm, thực hiện công tác phòng chống cháy rừng, trồng cây phân tán, chứ chưa thực hiện chi trả được đến các đối tượng khác. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ triển khai nhiệm vụ chi trả DVMTR không phải là chuyên trách, chủ yếu là kiêm nhiệm. Trong khi thủ tục hành chính để thực hiện chi trả cho các đối tượng được thụ hưởng rất rườm rà, bao gồm các văn bản về khảo sát diện tích rừng, trữ lượng rừng, hồ sơ thanh quyết toán, hoá đơn, chứng từ...

Chính sách chi trả DVMTR đã góp phần tích cực trong công tác xã hội hoá ngành lâm nghiệp, khuyến khích mọi thành phần tham gia bảo vệ và phát triển rừng, giảm gánh nặng về chi ngân sách cho lâm nghiệp. Vì vậy để phát huy hiệu quả, các bộ, ngành liên quan, UBND tỉnh cần sớm có những hướng dẫn cụ thể, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh, bổ sung nhân lực..., nhằm thực hiện tốt nhất chính sách này.

Việt Hoa

Cùng chuyên mục