Thực hiện mục tiêu xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) trở thành tập đoàn kinh tế Nhà nước mạnh, có khả năng cạnh tranh cao trên thương trường, TKV đã nỗ lực không ngừng trong việc tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm trong điều kiện khai thác ngày một khó khăn hơn.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành Than đã và đang khẳng định vị thế của một tập đoàn kinh tế vững mạnh. Ngoài việc cung cấp than đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang là một trong những nhà cung cấp than có uy tín trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, do các điều kiện khai thác xuống sâu và ngày càng khó khăn, cung độ vận chuyển tăng, tỷ trọng than hầm lò tăng và giá cả đầu vào, chính sách thuế, chi phí môi trường tăng nên giá thành sản xuất than tăng cao trong những năm gần đây đã tạo nên sức ép lớn đối với TKV. Theo tính toán của ngành Than, để khai thác được một tấn than lộ thiên hiện nay phải bóc xúc 10,7m3 đất đá. Với chi phí bình quân khoảng 80.000 đồng/m3 đất đá (gồm khoan, nổ mìn, bốc xúc, vận chuyển…) thì 1 tấn than phải chi phí 856.000 đồng tiền bóc xúc đất đá. Cộng với chi phí bơm nước, chi phí sàng tuyển, thuế tài nguyên… thì giá than thành phẩm sẽ khoảng gần 1,4 triệu đồng/tấn. Khác với các nhà máy sản xuất công nghiệp luôn cố định thì diện khai thác mỏ ngày càng xuống sâu hơn, hệ số bóc đất, đào lò, cung độ vận chuyển tăng. Theo thống kê từ năm 1995 đến 2014, hệ số đất đá tăng từ 3,4m3/tấn lên 10,7m3/tấn, cung độ vận chuyển tăng từ 1,3km lên 3,38km… làm chi phí khai thác tăng gấp 5 lần. Hiện nay, mỗi năm ngành Than phải đào khoảng 350km đường hầm, độ sâu từ -100 đến -300 so với mặt nước biển, bóc xúc khoảng 250 triệu m3 đất đá…
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu đã khiến nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới giảm mạnh trong những năm gần đây. Theo đó, giá bán than trên thị trường thế giới giảm khoảng 30% so với năm 2011. Nhận rõ những thách thức phải đương đầu, Tập đoàn đã xây dựng và hoàn thiện các cơ chế quản lý nội bộ phù hợp với cơ cấu tổ chức - quản lý - kinh doanh của Tập đoàn theo mô hình công ty mẹ - công ty con, kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than - khoáng sản. Bên cạnh việc không ngừng hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất, đầu tư thêm thiết bị, công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng và năng suất, thì việc tăng cường quản lý, sử dụng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất than là yêu cầu có tính tiên quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững của TKV. Được biết, hiện nay, TKV áp dụng khoán giá thành theo đơn giá công đoạn tổng hợp, một phương pháp quản lý chi phí, giá thành tiên tiến, khoa học; đơn giá được ban hành niêm yết công khai từng công đoạn sản xuất; trên cơ sở đơn giá công đoạn và điều kiện sản xuất cụ thể Tập đoàn ban hành giá bán than nội bộ cho từng đơn vị. Theo cơ chế đó, để tăng lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh, các công ty thành viên phải có biện pháp quản lý tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản xuất.
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, đồng chí Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch HĐTV TKV cho biết: TKV đang ở trong giai đoạn khó khăn và giá than thế giới chưa chắc sẽ sớm phục hồi. Để vượt qua khó khăn, TKV đã, đang và sẽ đặt mục tiêu quản lý sử dụng tiết kiệm chi sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lên hàng đầu. Theo tính toán của chúng tôi, năng suất lao động bình quân của TKV đến nay đã tăng 4 lần so với năm 1995, giá thành sản xuất than giảm 2% (nếu loại trừ các nguyên nhân khách quan). Với sản lượng 40 triệu tấn than/năm, với giá thành sản xuất khoảng 12-15 USD/tấn than như hiện nay thì chỉ số cạnh tranh của TKV xếp hàng thứ 2 trên thế giới (sau 2 công ty lớn, một của Mỹ và một của Trung Quốc). Tuy giá thành khai thác than mới đạt ở mức trung bình nhưng chất lượng tốt nên than Việt Nam vẫn duy trì được sức cạnh tranh ổn định. Hiện nay, TKV đang tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hoàn thiện tổ chức, quản lý, đổi mới công nghệ… đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững.
Lê Hải