Khi cánh cửa Trường Kỹ nghệ thực hành đóng lại thì cũng là lúc anh Hiếu phải đón nhận tất cả những gian nan vất vả. Suy nghĩ đầu tiên đến với anh là phải tìm lấy một công việc làm để bảo đảm cho cuộc sống của mình. Với trình độ học vấn thành chung năm thứ ba, lại được học ở Trường Kỹ nghệ thực hành, anh Hiếu tin là mình sẽ tìm được chỗ làm khả dĩ cho anh sống tạm đủ với lương tâm trong sạch.
Nhưng sự thật đã trả lời anh một cách phũ phàng. Không ông chủ nào, công sở nào chấp nhận được một phần tử “gây rối loạn trật tự an ninh” vào làm việc. Mặt khác, với lòng yêu nước đã nhen nhóm trong anh, thúc giục anh Hiếu đi tìm những người bạn học xưa, vốn là những thanh niên có tư tưởng tiến bộ và tinh thần cách mạng. Hơn một năm, anh đi tìm công việc thì cũng là hơn một năm anh tìm bạn bè, đồng chí.
Được bạn bè giúp đỡ, đầu năm 1928, anh Hiếu tìm đường ra mỏ Hà Tu (Hòn Gai), nơi có bà Lộc, người dì ruộtanh đang sinh sống, để kiếm việc làm.
“Ai đưa tôi đến chốn này,
Bên kia Bãi Cháy, bên này Hòn Gai”
Câu ca dao của nhân dân vùng mỏ đọng lại bao nỗi đau xót, như một tiếng kêu oán trách cho số phận nghèo khổ, hãi hùng trước một tương lai khủng khiếp của kiếp làm phu mỏ, ở đất Hòn Gai. Bước chân lên bến Hòn Gai, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt anh Hiếu là bóng tối của một hàng xà lim của sở mật thám mỏ đổ dài, đè nặng trên con đường mà tất cả những ai ra, vào mỏ đều phải đi qua. Người đến mỏ và người đi khỏi mỏ đều được nó “chào đón” và “từ biệt” như một lời cảnh cáo đe doạ.
Từ Hòn Gai, anh Hiếu vào luôn Hà Tu, nơi bà Lộc, dì ruột của anh sinh sống. ít ngày sau, anh đã xin vào làm phu đâm trục ở Sở Mới.
Cuộc đời làm người thợ mỏ đến với anh là một bước thử thách lớn. Đường lên tầng, những bậc đá cao chênh vênh như thách thức anh, một thanh niên mảnh khảnh. Người ta nói “trăm nghe không bằng một thấy”, được nhìn tận mắt cảnh sống và lao động của người phu mỏ, anh Hiếu mới thấy rõ tội ác mà bọn chủ mỏ thực dân gây ra đối với nhân dân ta.
Sáng sớm, từ 4 giờ, anh Hiếu đã phải cùng anh em công nhân dậy, nấu ăn vội vàng, rồi vừa đi vừa chạy ra chỗ làm. Tới nơi, tên cai đã chờ sẵn, cắt việc cho từng người. Ai nấy vội bắt tay ngay vào công việc. Làm phu đâm trục, anh Hiếu phải đẩy những chiếc xe goòng nặng hàng tấn, xung quanh anh toàn là sắt thép, xe goòng sắt, trục sắt, xà beng sắt, đường ray sắt… Mùa hè nóng như nung, bám vào xe goòng hai tay bỏng rát như đụng phải lửa. Mùa rét thì chạm tay vào đâu cũng thấy lạnh buốt. Làm việc dầm mưa giãi nắng, thân hình người thợ mỏ quắt lại. Hàng ngày anh Hiếu phải bẩy hàng chục chiếc xe cặm, đổ. Người nhỏ, chưa quen việc, tối về anh thấy ê ẩm cả người. Để than ra nhanh, bọn cai thúc thợ rất khắc nghiệt; làm chậm đánh, cặm xe đánh, cúp phạt và lăng nhục. Đúng là một hình thức lao động khổ sai của bọn chủ mỏ áp dụng đối với người thợ mỏ.
Tuy là thợ mới, sức yếu, nhưng nhờ có kiến thức học được ở Trường Kỹ nghệ thực hành, anh Hiếu nhanh chóng nắm được bí quyết của những động tác đun đẩy, bắn, bẩy, kéo xe goòng. Biết được tý nào anh liền mang trao đổi và hướng dẫn cho thợ bạn. Làm ở trục, công việc được khoán theo số chuyến xe, nhưng anh Hiếu vẫn dành thì giờ giúp bạn khi gặp xe đổ, xe cặm. Tính khiêm tốn, lại hay giúp bạn, anh Hiếu sớm được các anh chị em thợ mỏ mến mộ.
Phu đâm trục vốn nổi tiếng trong mỏ là những tay anh chị, họ chẳng sợ ai khi trong tay có chiếc xà beng. Môi trường làm việc lại làm họ dễ nổi nóng. Nhiều cuộc đánh nhau đã xảy ra vì lý do rất nhỏ. Anh Hiếu lựa lời phân tích cho mọi người về tác hại của những hành động mất bình tĩnh đó. Sự điềm đạm, nhã nhặn của anh đã thuyết phục mọi người. Từ đó, ở chỗ anh Hiếu làm, đánh nhau không còn nữa, lời chửi tục tĩu cũng thưa dần.
Càng sống gần gũi với những người thợ mỏ, anh Hiếu càng thông cảm với những nỗi khổ cực xót xa mà anh và các bạn phải chịu đựng. Những người phu lò mồ hôi như tắm, quần quật cuốc than trong đường lò chật chội, lởm chởm cạnh than sắc như dao. Không khí trong lò đặc quánh bởi bụi than và khí độc. Chỉ sơ ý là gãy vì, sập lò, nổ khí, có khi làm chết và bị thương hàng chục mạng người một lúc. Trên tầng thì phu đào than ngửa mặt khao than trên vỉa… Tai nạn thường xuyên xảy ra như sụt hàm ếch, đá lở, ngã tầng… Mỗi lần như thế, một vài người thợ lại chết, hoặc gãy chân, vỡ đầu. Phu xe goòng, phu đầu đường mải miết đưa than ra bãi, ra bến. Lúc nào cũng thấy những ngọn roi của bọn cai xếp, giám thị gian ác giơ trên đầu họ. Bị đánh đập, cúp phạt, lăng nhục là việc thường ngày diễn ra đối với họ.
Công nhân ở mỏ Hà Tu khá đông và sống tập trung. Biết rõ sức mạnh đấu tranh một khi công nhân đoàn kết lại, bọn chủ mỏ tìm cách chia rẽ công nhân để dễ bề thống trị và bóc lột họ. Chúng dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như gây hằn thù giữa công nhân người Việt với công nhân người Hoa; chúng trả lương cho công nhân người Hoa cao hơn công nhân người Việt và sử dụng nhiều cai thầu người Hoa để bóc lột người Việt… Trong người Việt, chúng cũng chia rẽ bằng cách xây dựng những lán công nhân tập trung theo địa phương như lán Nghệ (Nghệ An, Hà Tĩnh) lán Thanh (Thanh Hoá) lán Phục (Phục Lễ), lán Phả (Phả Lễ)… Chúng cho tay chân chui vào hàng ngũ công nhân để khiêu khích, gây hằn thù giữa nhân dân các dân tộc, các địa phương; không ít thợ mỏ đã mắc mưu của chúng.
Trước khi anh Hiếu đến mỏ Hà Tu, cứ vài ba tháng lại nổ ra một cuộc đánh chửi nhau giữa các lán thợ. Thấy rõ tác hại của những hành động thiếu chín chắn của một số thợ mỏ, và thủ đoạn thâm độc của bọn thực dân chủ mỏ, anh Hiếu đã tìm mọi cách dàn xếp những vụ xích mích xảy ra. Anh thường nói cho công nhân hiểu thế nào là đồng bào là con Lạc, cháu Hồng. Anh cũng giải thích cho mọi người biết, đâu là thủ đoạn của bọn chủ mỏ cai thầu; xếp lán và tác hại của những vụ anh em xô xát.
Có một lần, tên xếp lán người Hoa đã gièm pha, xúi bẩy cho công nhân người Hoa và công nhân người Việt đánh nhau. Vốn sẵn hiềm khích vì sự bất công trong tiền lương, mức khoán, chuyện xô xát nhỏ, đã bùng lên thành cuộc đụng độ nghiêm trọng; chỉ chờ cơi hội là nổ ra cảnh đâm chém nhau gây án mạng. Để không xảy ra cảnh “nôi da nấu thịt” đó, anh Hiếu đứng ra dàn xếp. Mặc dù biết chỉ cần có người Việt nào đi gần tới lán Hoa là cả lán sẽ lao vào hành hung, thậm chí giết chết, anh Hiếu vẫn một mình đi thuyết phục. Tên xếp lán nhảy ra doạ đánh anh, và định nếu anh đánh lại, hắn sẽ lu loa là người Việt giết hắn và đẩy mọi người vào đâm chém nhau. Anh Hiếu bình tĩnh và ôn tồn thuyết phục mọi người. Anh nói về hậu quả đau xót sau những cuộc đụng độ, mà người chịu không phải ai khác chính là anh em thợ mỏ. Bình tĩnh, chân thành, hoà nhã, lời nói có sức thuyết phục của anh làm cho mọi người nhìn thấy sự nhẹ dạ, bồng bột của mình. Anh đã dàn xếp được êm thắm.
>>Kỳ trước (Còn nữa)