Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 từ lâu được xem là ngày “tôn sư trọng đạo” nhằm tôn vinh “những người đưa đò thầm lặng” của bao thế hệ. Đây cũng là dịp để học trò bày tỏ lòng biết ơn đến thầy cô của mình. Vào ngày này, các thế hệ học trò cũng như các ngành nghề khác đều dành thời gian để nhìn lại và tri ân các cống hiến thầm lặng của những thầy cô.
Lần đầu tiên, sự kiện mừng Quốc tế Hiến chương các nhà giáo được Việt Nam tổ chức vào ngày 20/11/1958. Trong ngày này, lễ kỷ niệm không những được tổ chức tại Hà Nội mà còn diễn ra từ Vĩnh Linh (giới tuyến quân sự tạm thời) đến các vùng biên giới hải đảo. Từ miền núi đến vùng đồng bằng ở miền Bắc đều có những hoạt động phong phú tại các trường học trên địa bàn huyện, quận, thị xã… Việc tổ chức Ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo 20/11 từ đó dần trở thành ngày hội truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam.
Theo đề nghị của ngành giáo dục, tháng 9/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167/HĐBT, quyết định lấy ngày 20/11 hằng năm là Ngày Nhà giáo Việt Nam.
Ngày 20/11/1982, lễ kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước. Từ đó đến nay, đây là ngày truyền thống của ngành giáo dục để tôn vinh những người làm công tác trồng người. Đó cũng là dịp để các thế hệ học sinh thể hiện lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô - những người ngày đêm không ngừng chèo lái con thuyền cập bến bờ tri thức.
Trước đó, từ hàng ngàn năm, “tôn sư trọng đạo” đã trở thành truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Việt Nam. Cuộc đời thành danh của nhiều hoàng đế, danh sĩ, trạng nguyên… gắn liền với sự học hành và đạo thầy - trò như Lý Công Uẩn - vị vua sáng lập triều Lý với thầy học đã nuôi dưỡng và giáo dục ngài là sư Vạn Hạnh, Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát làm quan đến nhất phẩm trong triều nhưng khi trở về thăm thầy vẫn xuống ngựa từ rất xa đi bộ vào. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều học trò văn võ toàn tài như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Lương Hữu Khánh... Khi Lương Hữu Khánh bỏ nhà Mạc vào Thanh Hóa phò vua Lê vẫn gửi quế Thanh ra biếu thầy mình. Dưới thời Tây Sơn, Quang Trung Nguyễn Huệ biết được Nguyễn Thiếp là thầy giáo của nhiều triều thần Lê - Trịnh đương thời đã nhiều lần viết thư mời ra làm quân sư...
Tục ngữ, ca dao, văn học dân gian là một trong các “kênh” lưu giữ phong phú nhất về đạo nghĩa thầy trò. Từ xưa, ông cha ta đã quan niệm: “Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lý” (Nghĩa là: Ngọc không mài giũa thì không thành đồ quý. Người không học thì không biết lẽ phải). Học trước hết là để làm người. Để có thể học làm người thì vai trò người thầy luôn chiếm vị trí rất quan trọng. Dù chỉ học một chữ hay nửa chữ, học một ngày hay bao lâu cũng mang ơn người dạy: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (Học một chữ cũng là thầy, học nửa chữ cũng là thầy), “Nhất nhật vi sư” (học một ngày cũng là thầy). Ca dao, tục ngữ đã nhắn nhủ: “Mẹ cha công sức sinh thành/ Ra trường thầy dạy học hành cho hay”; “Công cha, áo mẹ, chữ thầy/ Gắng công mà học có ngày thành danh”... Thầy ở đây được hiểu là thầy trong nhà trường và cuộc sống. Không chỉ có học trò, mà xã hội nói chung đều nhận thức được vai trò quan trọng của người thầy: “Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”…
Trên cơ sở quý trọng và đánh giá cao tầm quan trọng của người thầy giáo, nhân dân ta từ bao đời nay luôn có tư tưởng trọng nghề dạy học: “Những người truyền đạo khai nhân/ Nghìn thu để tiếng muôn phần thơm lâu”.. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo vì nó đã sáng tạo ra những con người sáng tạo”.
Chúng ta đang sống trong thời đại “cuộc sống số”, tuy nhiên những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của cha ông như “tôn sư trọng đạo” thì vẫn mãi luôn giá trị, là nền tảng để xây dựng con người cũng như bảo tồn, lưu giữ những giá trị nhân văn tốt đẹp khác.