90 năm kể từ cuộc Tổng bãi công năm 1936 là một hành trình dài với biết bao đổi thay trên những khai trường, nhưng có một giá trị vẫn luôn được gìn giữ và trao truyền qua các thế hệ thợ mỏ - đó là tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”.
Ngành Than là một trong những trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Với vị trí quan trọng, trong giai đoạn phát triển mới, xanh, bền vững, ngành Than đang từng bước ứng dụng khoa học, công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa phương thức sản xuất, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc.
Âm thầm làm việc dưới lòng đất, lực lượng cấp cứu mỏ được ví như "lá chắn thép" bảo vệ sự sống cho những người thợ. Trong môi trường khai thác than tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, họ luôn ở trạng thái sẵn sàng ứng cứu, phản ứng nhanh trước các sự cố như rò rỉ khí độc, sạt lở, cháy ngầm và những tình huống khẩn cấp khác. Sự có mặt của lực lượng cấp cứu mỏ góp phần bảo đảm an toàn cho người lao động trong các đường lò, đồng thời thể hiện tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” của người thợ mỏ trong phối hợp, hỗ trợ và bảo vệ đồng đội.
Giữa tiếng máy gầm vang và bụi than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông, những nữ công nhân nhà sàng vẫn miệt mài bên các băng chuyền. Công việc phân loại, sàng tuyển than thầm lặng nhưng không ít gian khó, đòi hỏi sức bền, sự tập trung trong môi trường nhiều tiếng ồn, bụi than. Trên những gương mặt phủ bụi than là vẻ rắn rỏi, sự bền bỉ và nụ cười rạng rỡ của những người phụ nữ vùng mỏ.
Từ những bản làng vùng cao đến các tầng lò sâu trong lòng đất, hành trình “đưa đường lò về bản” mở ra cơ hội việc làm ổn định cho thanh niên dân tộc thiểu số. Các chính sách thu hút, đào tạo và đãi ngộ không chỉ góp phần bổ sung nhân lực cho ngành Than, mà còn giúp người dân vùng cao nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Sự dịch chuyển lao động ấy góp phần tăng cường gắn kết cộng đồng, tiếp thêm động lực vươn lên từ những vùng đất giàu truyền thống ngành Than.
Thời 4.0, hình ảnh người thợ mỏ Quảng Ninh với gương mặt lem luốc bụi than dần được thay thế bằng những "kỹ sư hầm mỏ" làm chủ công nghệ hiện đại. Trong những lòng đất sâu hàng trăm mét, tiếng cuốc xẻng nhường chỗ cho hệ thống điều khiển tự động, máy xúc dung tích lớn và robot giám sát an toàn thông minh. Không chỉ giàu sức bền, thợ mỏ ngày nay còn sở hữu tư duy số hóa, vận hành mỏ than bằng dữ liệu và tri thức. Bước chuyển mình công nghệ này không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn khắc họa nét chân dung hiện đại, bản lĩnh của những người con đất mỏ thời đại mới.
Có một thế giới nằm sâu trong lòng đất, nơi không có ánh sáng mặt trời, nhưng mỗi ngày vẫn có những con người mang ánh sáng của niềm tin, trí tuệ và khát vọng đi vào những đường lò. Để một lò chợ cơ giới hóa có thể vận hành, phía sau những nhịp máy đầu tiên là cả một hành trình dài của con người và thiết bị: Từ lắp dựng, chạy thử trên mặt bằng, thực hành làm chủ công nghệ; đến tháo dỡ, vận chuyển xuống lòng đất, lắp đặt, căn chỉnh, kiểm tra và đưa vào sản xuất.
Trong lịch sử phát triển của ngành Than - Khoáng sản Việt Nam, người thợ mỏ luôn là lực lượng trực tiếp làm nên những tấn than, góp phần bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ sản xuất và đời sống đất nước. Từ những tầng sâu lòng đất đến các khai trường, nhà máy, công trường, ở đâu có những người thợ mỏ, ở đó có tinh thần vượt khó, ý thức tổ chức kỷ luật và sự gắn bó với nghề được hun đúc qua nhiều thế hệ.
Giữa lòng đất sâu thăm thẳm, nơi ánh sáng mặt trời không thể chạm tới, sự sống và an toàn của thợ mỏ phụ thuộc hoàn toàn vào những chiếc đèn lò. Giờ đây người thợ đã chủ động hơn trong việc bảo quản thiết bị, từ sạc đèn cho tới lấy trả vào vị trí. Song thầm lặng sau mỗi ca sản xuất, những người thợ cấp phát và bảo dưỡng, hay còn được gọi thân thương là "người giữ ánh đèn lò" – vẫn miệt mài lau chùi, nạp điện và kiểm tra kỹ lưỡng từng chiếc đèn.
Thay cho lối đi bộ thăm thẳm ngập tràn nguy hiểm ngày xưa, thợ mỏ thời nay xuống lò bằng hệ thống giao thông đặc biệt. Sự xuất hiện của những chiếc "thang máy xuyên lòng đất" chính là tuyến giao thông thẳng đứng hiện đại và ấn tượng nhất của ngành than Quảng Ninh. Khác biệt hoàn toàn với những chiếc thang máy ở các tòa nhà cao tầng, hệ thống giếng đứng hầm mỏ được thiết kế vô cùng kiên cố với thùng giếng siêu trọng, vận hành bằng hệ thống cáp treo công suất lớn, đưa hàng chục thợ mỏ xuống sâu hàng trăm mét dưới mực nước biển chỉ trong vòng vài phút.
Đằng sau mỗi ca sản xuất an toàn và những tấn than vượt năng suất dưới lò sâu là điểm tựa bình yên mang tên hậu phương. Đó là ngọn lửa ấm nơi căn bếp gia đình, là sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người vợ luôn sẵn sàng gánh vác việc nhà để người thợ mỏ yên tâm bám lò. Không chỉ dừng lại ở mái ấm gia đình, hậu phương ấy còn là sự chăm lo chu đáo từ doanh nghiệp và cộng đồng vùng mỏ. Chính tình yêu thương cùng niềm tin nơi hậu phương đã trở thành nguồn động lực vô giá, chắp cánh cho những người thợ vững vàng làm chủ lòng đất.
Thợ mỏ là một nghề vất vả, nặng nhọc, đôi khi phải đánh đổi bằng cả mồ hôi, sức lực và xương máu, bởi những rủi ro luôn rình rập. Trên mặt trận khai thác “vàng đen” cho Tổ quốc, những người “chiến sĩ” thợ mỏ không quản ngại khó khăn, gian khổ, lập nhiều thành tích, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Phía sau những thành quả ấy là những hậu phương vững chắc.
Trong suốt hành trình hình thành và phát triển của ngành công nghiệp than khoáng sản Việt Nam, văn hóa văn nghệ luôn là mạch nguồn bền bỉ nuôi dưỡng tâm hồn người thợ mỏ. Những giọng ca cất lên từ hầm lò, từ bến cảng, từ những khu tập thể công nhân không chỉ làm giàu đời sống tinh thần mà còn bồi đắp lên bản sắc văn hóa riêng của ngành than. Truyền thống ấy đã trở thành một nền tảng văn hóa vững bền, hôn đúc ý chí, niềm tự hào và sức mạnh tinh thần của các thế hệ người thợ mỏ.
Văn hóa thợ mỏ không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là nguồn lực nội sinh để xây dựng Đảng, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh ngành Than đang đứng trước nhiều thách thức đan xen, từ biến động thị trường, áp lực chuyển dịch năng lượng, yêu cầu tái cơ cấu sản xuất đến điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thợ mỏ càng trở nên cấp thiết.
Công đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đang cùng doanh nghiệp xây dựng hệ thống phúc lợi sát với nhu cầu của thợ mỏ. Sự chăm lo ấy góp phần giữ sức khỏe, ổn định cuộc sống và tạo thêm động lực để người lao động gắn bó lâu dài với đơn vị.
Chương trình “Vinh quang thợ mỏ - 2026” vừa tuyên dương 90 cá nhân tiêu biểu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Qua nhiều năm tổ chức, chương trình đã trở thành điểm hẹn tôn vinh những công nhân trực tiếp sản xuất, cán bộ quản lý và cán bộ công đoàn có nhiều đóng góp, góp phần lan tỏa phong trào thi đua lao động sản xuất trong toàn Tập đoàn.
Ở Vùng mỏ, có những người lớn lên cùng hình ảnh người cha trở về sau mỗi ca làm việc với gương mặt còn vương bụi than và những câu chuyện về các đường lò hun hút dưới lòng đất. Với anh Niềm Thanh Thủy (SN 1992), Tổ trưởng Tổ sản xuất số 3, Công trường Khai thác đào lò số 10, Công ty Than Khe Chàm - TKV, tình yêu nghề mỏ cũng được nuôi dưỡng một cách tự nhiên như thế.
Giữa nhịp than tuôn chảy ngày đêm tại Công ty Tuyển than Cửa Ông - TKV, anh Đoàn Trung Dũng (SN 1981), Tổ trưởng sản xuất Tổ Phụ trợ 2, Phân xưởng Tuyển than 1, luôn được đồng nghiệp nhắc đến như một người thợ tận tụy, trách nhiệm và giàu sáng tạo.
Không phải là những hoạt động lớn lao, hay những món quà đắt tiền, nhiều năm nay những “Bữa cơm Công đoàn” tại các đơn vị ngành Than đã trở thành cách chăm lo thiết thực, gần gũi với người lao động.
Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Đảng ủy Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Đảng ủy Than Quảng Ninh đã nhanh chóng cụ thể hóa bằng các văn bản quan trọng, thể hiện quyết tâm xây dựng văn hóa ngành Than vừa giữ vững bản sắc truyền thống, vừa phát triển phù hợp với yêu cầu thời kỳ mới.