Thợ mỏ hưởng ứng lời hiệu triệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hưởng ứng lời hiệu triệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, thợ mỏ Quảng Ninh vừa đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm nguồn than cho đất nước, vừa cầm súng chiến đấu, vận chuyển nhân lực, vật lực chi viện cho chiến trường. Phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai” cùng tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” đã hun đúc ý chí, trách nhiệm và sự cống hiến của người thợ mỏ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

"Mỗi người làm việc bằng hai"

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đội ngũ thợ mỏ Quảng Ninh đã phát huy tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”, vừa bám tầng lò, duy trì sản xuất, bảo đảm nguồn than cho đất nước, vừa cầm súng chiến đấu và trực tiếp chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

4.jpg

Nhà máy Cơ khí Cẩm Phả sơ tán vào hang đá, công nhân bám máy tiếp tục sản xuất. Ảnh tư liệu

Giai đoạn này, ngành Than giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ công nghiệp hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ và đáp ứng nhu cầu của tiền tuyến. Tháng 8/1965, Trung ương Đảng quyết định thành lập Tổng Công ty Than Quảng Ninh, bao gồm các mỏ thuộc khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê, Vàng Danh, Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí, Công ty Xây lắp và một số mỏ khác ở miền Bắc. Đảng ủy Tổng công ty đề ra phương hướng vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ khu mỏ trước cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Tại Hội nghị chính trị đặc biệt ngày 27/3/1964, Bác Hồ ra Lời kêu gọi: “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, tháng 7/1964, Tỉnh ủy Quảng Ninh chính thức phát động phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” trên toàn tỉnh.

Ngay từ năm 1964, Công ty Than Hòn Gai (bao gồm các mỏ từ Mạo Khê, Đông Triều đến Mông Dương, Cẩm Phả) phát động chiến dịch sản xuất than “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Điện Biên - Ấp Bắc”. Ngày 16/12/1964, Công ty hoàn thành kế hoạch trước 15 ngày với sản lượng 3,2 nghìn tấn than sạch, tăng 6% so với kế hoạch. Mỏ Đèo Nai dẫn đầu về năng suất, chất lượng; các mỏ Hà Lầm, Hà Tu, Mạo Khê liên tục lập kỷ lục mới.

Phong trào thi đua làm thêm giờ chống Mỹ, cứu nước, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tổ chức lao động và quản lý, quyết tâm đạt “3 điểm cao” diễn ra sôi nổi. Thanh niên công nhân mỏ hưởng ứng các phong trào “3 tình nguyện”, “3 nhất”, “5 vượt”, “3 sẵn sàng”, “3 quyết tâm”, “3 lời thề chống Mỹ, cứu nước”, “8 nếp sống thời chiến”. Nữ công nhân viên mỏ tích cực tham gia phong trào “3 đảm đang”, với 7.500 người hưởng ứng; nhiều chị em vừa tích cực sản xuất, tham gia tổ săn máy bay địch, vừa viết đơn tình nguyện vận động chồng con đi đánh Mỹ.

Tình cảm hướng về miền Nam được thợ mỏ biến thành hành động cụ thể qua việc đặt tên các địa danh miền Nam cho công trường, đường lò như: Công trường Bà Rịa (mỏ Hà Tu), công trường Rạch Giá (mỏ Cọc Sáu), công trường Ba Đảm Đang, đường lò Diện Ngọc, đường lò 13-50 (mỏ Thống Nhất). Các chiến dịch thi đua nối tiếp nhau: “Vì miền Nam ra quân quyết thắng”, “Vận xuất Đắc Tô” (1967), “Mùa xuân thắng Mỹ” (1968). Khẩu hiệu “Giặc phá hoại 1, ta làm bù 2, 3”, “Ngày thứ 7 đẩy mạnh sản xuất” thấm sâu vào suy nghĩ của mỗi người thợ.

2.jpg
Tự vệ Xí nghiệp Mỏ Mông Dương sẵn sàng chiến đấu (1975). Ảnh: TTXVN

Trên tầng cao mỏ lộ thiên Cọc Sáu, công nhân hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1968 trước 4 tháng 15 ngày (ngày 17/8/1968), được Bác Hồ gửi thư khen ngợi ngày 7/9/1968. Tại Xí nghiệp Than Hòn Gai, công nhân tận dụng 180 tấn sắt thép phế liệu, tự gia công 1.500 mặt hàng phục vụ sửa chữa. Mỏ Mạo Khê phục hồi thành công đầu tàu 11, 12 và thí điểm khai thác cột lưu thanh ở lò cái, lò dốc. Nhiều cá nhân tiêu biểu xuất hiện như đồng chí Vũ Hữu Sơn với kỹ thuật khoan tầng đá rắn (sau này được phong tặng Anh hùng Lao động), tổ đào lò anh Đào Xuân Ngọc (mỏ Thống Nhất), tổ máng ngoài Công ty Sàng tuyển than Cửa Ông. Đây là những lá cờ đầu được Bác Hồ trực tiếp biểu dương khi Người về thăm Quảng Ninh đầu năm 1965.

Ngày 2/2/1965 (mùng 1 Tết Ất Tỵ), Bác Hồ về thăm Quảng Ninh, biểu dương Công ty Than Hòn Gai vượt kế hoạch 20 vạn tấn than năm 1964 và trao “Cờ thưởng luân lưu thi đua khá nhất” cho ngành Than.

“Vững tay búa, chắc tay súng”

Hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc (1964-1968 và 1968-1972), khu mỏ Quảng Ninh là trọng điểm đánh phá ác liệt. Cán bộ, thợ mỏ vừa bảo vệ mỏ, tài sản, tính mạng, vừa bám sản xuất để bảo đảm nguồn than cho nền kinh tế và xuất khẩu.

Để duy trì sản xuất dưới mưa bom bão đạn, ngành Than nhanh chóng chuyển sang thời chiến. Hàng vạn tấn máy móc, vật tư, thuốc nổ từ hai kho chính ở Hòn Gai, Cẩm Phả được tháo dỡ, di chuyển cất giấu tại các hang núi K1, K2, K3 mà vẫn cấp phát phụ tùng kịp thời. Nhà máy Cơ khí Cẩm Phả di chuyển toàn bộ máy móc vào hang, bảo đảm hơn 1.000 cán bộ, công nhân làm việc 3 ca liên tục.

Do hầm lò, khai trường lộ thiên, nhà sàng, bến cảng ở vị trí cố định, thợ mỏ đào 3.981 hầm cá nhân, 1.221m giao thông hào, di chuyển hơn 40.000m³ đất đá, tận dụng hàng trăm tấn sắt thép, tre gỗ dựng nhà trẻ, trường học nơi sơ tán. Hệ thống quan sát, còi báo động được lắp khắp khai trường. Mạng lưới y tế thời chiến tăng từ 5 bệnh xá (1965) lên 9 bệnh xá (1966) với hàng trăm giường bệnh. Ngành Than cũng bố trí các cụm máy phát điện cục bộ, sẵn sàng chuyển từ cơ giới sang thủ công, từ khai thác lộ thiên sang hầm lò để thích ứng với mọi tình huống.

3.jpg

Nữ tự vệ Nhà sàng Hòn Gai (Xí nghiệp Bến Hòn Gai) trong ngày lễ ra mắt Binh đoàn Than năm 1967.

Để bảo vệ Vùng mỏ, năm 1967, lực lượng tự vệ mỏ phát triển lên 9.563 chiến sĩ (chiếm 41% tổng số cán bộ, công nhân), biên chế thành 11 tiểu đoàn, 4 đại đội, trang bị 34 khẩu pháo cao xạ (37-100mm) và hàng trăm súng bộ binh. Đến năm 1972, lực lượng phòng không mỏ dựng 25 trận địa pháo cao xạ, với gần 9.000 tự vệ cơ động trực tiếp chiến đấu thay thế bộ đội chủ lực, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

Nổi bật trong những năm tháng ác liệt là hình ảnh người thợ “vững tay búa, chắc tay súng”. Tự vệ công nhân ngành Than trở thành lực lượng chủ yếu bảo vệ vùng trời, vùng biển Đông Bắc, sát cánh cùng nhân dân đánh địch, bắn rơi hàng chục máy bay, bắt sống giặc lái; nhiều đơn vị vinh dự ghi tên vào lá cờ Quyết chiến quyết thắng của Bác Hồ tặng quân dân Đông Bắc.

Tại Xí nghiệp Sàng tuyển than Cửa Ông, công nhân tự vệ vừa đánh trả máy bay địch, vừa giữ vững nhịp độ sàng tuyển. Cầu 20, Nhà sàng, Bến cảng Cửa Ông vẫn hiên ngang đứng vững. Khi nhà sàng bị đánh phá nặng nề, “Công trình thanh niên” được phát động, quy tụ hàng trăm thợ giỏi từ Mạo Khê, Vàng Danh, Hòn Gai, Cẩm Phả về sửa chữa, đưa nhà máy hoạt động trở lại trước tiến độ.

Từ năm 1955-1975, ngành Than ở Quảng Ninh sản xuất được 56.754.542 tấn than, cung cấp cho các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là điện lực, hóa chất, xi măng, vật liệu xây dựng và công nghiệp nhẹ.

Sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam

Không chỉ kiên cường đánh trả địch tại khu mỏ, khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” còn lan tỏa sâu rộng. Ngày 30/7/1967, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức Lễ tuyên bố thành lập “Binh đoàn Than” tại rạp chiếu phim Bạch Đằng (thị xã Hòn Gai).

Chỉ trong 4 ngày (27/7 đến 30/7/1967), gần 2.000 công nhân ưu tú từ các mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí tự nguyện xếp lại chiếc búa, kíp mìn để khoác áo chiến sĩ, biên chế thành ba Tiểu đoàn: 385, 386 và Tiểu đoàn 9. Nhiều thợ mỏ dù thuộc diện hoãn nghĩa vụ quân sự vẫn giấu gia đình, viết đơn bằng máu xin vào chiến trường. Họ mang theo truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” tiến vào các chiến trường B2, Trị Thiên - Huế, Tây Nguyên chiến đấu anh dũng.

Tổng kết phong trào “Ba sẵn sàng”, tuổi trẻ Quảng Ninh đóng góp 26.559 đoàn viên, thanh niên tòng quân, trong đó hơn 10.000 người trực tiếp vào Nam chiến đấu. Giai đoạn 1965-1975, Quảng Ninh luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu giao quân; riêng đợt tuyển quân đầu năm 1975 vượt 16% chỉ tiêu, là một trong hai đơn vị dẫn đầu miền Bắc được Chính phủ khen ngợi.

Bên cạnh sức người, công nhân ngành Than còn tham gia mở các tuyến đường chi viện chiến lược. Trước sự đánh phá ác liệt của địch, ngày 31/7/1972, Bộ Điện - Than thành lập “Đoàn xe vận tải 12-11” với lực lượng chủ yếu từ Công ty Than Hòn Gai gồm 300 xe ô tô và 847 cán bộ, công nhân (cùng sự tham gia của Công ty Xây lắp đường dây và trạm, Công ty Xây dựng điện than). Đoàn xe bất chấp bom đạn, vận chuyển hàng vạn tấn hàng quân sự từ Lạng Sơn về các tỉnh đồng bằng và Khu IV.

6.jpg
Mỏ than Đèo Nai mở chiến dịch 120 ngày đêm, đẩy mạnh sản xuất than sau khi thống nhất đất nước (1976). Ảnh tư liệu

Ngày 1/8/1972, Công trường T72B được thành lập với 6.000 công nhân tình nguyện xây dựng đường ống dẫn dầu. Trên tuyến dài gần 200km qua Móng Cái, Quảng Hà, Tiên Yên, Ba Chẽ, Cẩm Phả, Hoành Bồ, Yên Hưng, Uông Bí, Công ty Than tự bảo đảm toàn bộ hậu cần. Sau 3 tháng xuyên rừng khoét núi, công trường hoàn thành phát tuyến, đào, lắp đặt 172.189 mét đường ống (đạt 107% kế hoạch); bốc, vận chuyển, lắp ráp 54.040 ống dẫn dầu; lắp đặt 300 stéc lớn làm bể chứa, 64 trạm bơm, 16 hố van; tu sửa 34.284 mét đường ô tô, phục vụ kịp thời cho chiến trường.

Về hậu phương, riêng hai năm 1974-1975, Quảng Ninh cung cấp cho Nhà nước 10.000 tấn lương thực, 13.500 tấn rau xanh, 6 triệu quả trứng và 4.500 tấn thịt lợn, tiếp thêm sức mạnh cho quân đội ta đánh thắng kẻ thù.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, Vùng mỏ Quảng Ninh có 4 đơn vị, 11 cán bộ, công nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, cùng hàng nghìn tập thể đạt danh hiệu Tổ lao động xã hội chủ nghĩa. Đó là sự ghi nhận cho những mồ hôi, xương máu và trí tuệ mà thợ mỏ Quảng Ninh đã dâng hiến cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Thu Nguyên

Cùng chuyên mục