Từng có một Vân Đồn không... tĩnh lặng

Gần 50 bản báo cáo, là những công trình khoa học thực sự, được gửi tới cuộc Hội thảo dường như đã làm “sống lại” một Vân Đồn thương cảng, với những tiềm năng thế mạnh trên các lĩnh vực, những hoạt động giao lưu thương mại, văn hoá v.v... hết sức sôi động qua các thời đại trong lịch sử...

Tất cả cho thấy, từng “có một Vân Đồn không... tĩnh lặng” trong lịch sử dân tộc, như lời Phó Giáo sư - TSKH Nguyễn Hải Kế, Trưởng Khoa Lịch sử (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn), đồng Trưởng Ban Tổ chức cuộc Hội thảo, nhận xét.

Và hiện tại, dẫu mới được “đánh thức”, hẵng còn “ngái ngủ”, nhưng là mảnh đất hội tụ đủ cả ba yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hoà, Vân Đồn sẽ còn sôi động, phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai. Rất nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên các lĩnh vực đã “tiên đoán” như vậy....

Từng có một Vân Đồn không... tĩnh lặng ảnh 1
Vân Đồn hôm nay

Gần 50 bản báo cáo, là những công trình khoa học thực sự, được gửi tới Hội thảo dường như đã làm “sống lại” một Vân Đồn thương cảng, với những tiềm năng thế mạnh trên các lĩnh vực, những hoạt động giao lưu thương mại, văn hoá v.v.. hết sức sôi động qua các thời đại  trong lịch sử... Tất cả cho thấy, từng “có một Vân Đồn không... tĩnh lặng” trong lịch sử dân tộc, như lời Phó Giáo sư - TSKH Nguyễn Hải Kế, Trưởng Khoa Lịch sử (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn), đồng Trưởng Ban tổ chức cuộc Hội thảo, nhận xét.

Và hiện tại, dẫu mới được “đánh thức” hẵng còn “ngái ngủ”, nhưng là mảnh đất hội tụ đủ cả ba yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hoà, Vân Đồn sẽ còn sôi động, phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai - Rất nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên các lĩnh vực đã ''tiên đoán" như vậy...

Đó là cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề: "Thương cảng Vân Đồn - Lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hoá”, do Khoa Lịch sử (Trường Đại học KHXH&NV) và Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh cùng UBND huyện Vân Đồn, đồng tổ chức, ngày 11-12 tháng 7 vừa qua. Có thể nói, đề tài “Thương cảng Vân Đồn'' vốn từ lâu đã được các nhà khoa học, cả trong và ngoài nước, đặc biệt quan tâm, dưới nhiều góc độ, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, lịch sử, khảo cổ học v.v... Tuy nhiên, cũng phải mất 22 năm sau, kể từ cuộc Hội thảo đầu tiên (năm 1986), cuộc Hội thảo thứ hai mới được tổ chức. Và lần này, Thương cảng Vân Đồn được xem xét một cách toàn diện hơn; không chỉ về một lĩnh vực mà trên nhiều lĩnh vực; không chỉ trong quá khứ mà cả trong hiện tại và định hướng tương lai... Đặc biệt hơn, ngoài những chuyên gia, nhà khoa học, các cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý các lĩnh vực chuyên môn của trung ương và của tỉnh, còn có cả những nhà khoa học nước ngoài (như Nhật Bản, Trung Quốc...), tuy không trực tiếp có mặt, nhưng cũng đã gửi báo cáo đến tham gia Hội thảo. Điều đó càng cho thấy cuộc Hội thảo này là hết sức có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn hiện nay.

Từng có một Vân Đồn không... tĩnh lặng ảnh 2

Các nhà khoa học tham dự Hội thảo trao đổi trong giờ giải lao

Chỉ cần lướt qua danh mục đề tài nghiên cứu của các tác giả cũng có thể nhận thấy tại Hội thảo lần này, Thương cảng Vân Đồn được nghiên cứu, xem xét dưới nhiều góc độ. Từ việc thông qua các cứ liệu khảo sát điền dã để khẳng định Vân Đồn là một vùng đất có Địa - Kinh tế, Địa - Văn hoá hết sức quan trọng ngay từ khi lịch sử loài người mới hình thành, đến những kết luận mang tính khoa học về một nền Văn hoá biển, một Truyền thống hướng biển ở Việt Nam mà Vân Đồn là nơi hội tụ các yếu tố rõ nhất. Nền Văn hoá biển ấy, theo đà phát triển của lịch sử, đã hình thành nên Thương cảng Vân Đồn như một trung tâm kinh tế đối ngoại quan trọng của đất nước hoạt động liên tục suốt 7 thế kỷ (từ thế kỷ XII-XVIII); không những thế, đây còn là cửa ngõ trong giao lưu, bang giao giữa nước ta với các nước trong khu vực... Nói về nét đặc trưng này của Vân Đồn, trong nghiên cứu của mình, GS Lý Kim Minh (Trung Quốc) khẳng định: ''Xem xét các mối quan hệ của Vân Đồn trên trục thời gian và phương diện không gian, có thể thấy hệ thống thương cảng Vân Đồn không chỉ có sự liên kết theo hướng Bắc - Nam mà còn có môi liên kết Đông - Tây), giữa nội vùng với khu vực ngoại vi, giữa trong nước với quốc tế...”.

Một điều nữa cũng cần nhấn mạnh là tại Hội thảo, nhiều báo cáo đã tập trung khảo cứu các chủ trương, chính sách và phân tích vai trò của các thể chế trung ương, địa phương qua các thời kỳ, kể từ khi vua Lý Anh Tông khai mở trang Vân Đồn (năm 1149) đến các triều đại nhà Trần, nhà Lê v.v... trong nhận thức về vị trí chiến lược của vùng biển Đông Bắc Tổ quốc nói chung, Vân Đồn, Quảng Ninh nói riêng; chỉ ra những tác động tích cực hoặc tiêu cực do những nhận thức khác nhau về vấn đề này mà các triều đại trong từng giai đoạn lịch sử đã tạo ra... Và có thể nói, những nhận định, đánh giá trên cơ sở khoa học ấy giống như “bức phản chiếu”, làm rõ hơn các vấn đề xoay quanh việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội v.v... của Vân Đồn hôm nay cũng như trong tương lai. Bởi lẽ, khi xem xét, đánh giá sự tác động (tích cực hoặc tiêu cực) của các thể chế nhà nước trung ương, địa phương đến sự phát triển (hay trầm lắng) của Thương cảng Vân Đồn trong quá khứ cũng là dịp để chúng ta nhìn nhận, đánh giá, tìm ra những giải pháp tối ưu nhất cho định hướng phát triển Khu kinh tế Vân Đồn hôm nay. Thậm chí, có nhà khoa học đã nhận xét: ''Việc Chính phủ quyết định thành lập Khu kinh tế Vân Đồn càng trở nên có ý nghĩa khi Việt Nam đã và đang thực hiện Chiến lược biển...'' và: “Nghĩ suy về các chính sách và Chiến lược biển, trong cảm thức lịch sử, sau tám thế kỷ dường như chúng ta đang trở lại với những dấu ấn và con đường của người xưa, đang hướng mạnh đến một tầm tư duy khu vực trong một tâm thế mới để mở mang vận nước...''.

Mặt khác, chính việc có nhiều báo cáo đề cập đến tiềm năng và sự phát triển của Vân Đồn thời hiện tại đã làm cho cuộc Hội thảo không còn mang tính “thuần tuý học thuật'' mà còn thêm ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa thời sự; nhất là trong các báo cáo bàn về định hướng phát triển Khu kinh tế tổng hợp Vân Đồn và chiến lược phát triển vùng Đông Bắc theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 26-7-2007 hoặc trong các báo cáo về công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá của các di tích lịch sử ở đây v.v...

Nói cách khác, như nhận xét của Ban Tổ chức sau khi kết thúc cuộc Hội thảo, trên cơ sở những nhận thức khoa học, kế thừa những thành tựu nghiên cứu đạt được, cuộc Hội thảo lần này “là một bước tiến mới, góp phần đạt đến một nhận thức khoa học, khách quan, toàn diện hơn về thương cảng Vân Đồn...”.

Hy vọng điều đó không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thành, vị thế trong nước, quốc tế của Thương cảng Vân Đồn nói riêng, vùng Đông Bắc Tổ quốc nói chung, mà còn là những luận cứ khoa học thiết thực cho thực tiễn phát triển của Vân Đồn hôm nay.

Những nhận định từ các chuyên gia

Phó GS,TSKH Nguyễn Hải Kế (Khoa Lịch sử, Trường Đại học  KHXH&NV):

“Chỉ mới đến cuối thế kỷ XIX - chứ chưa phải là toàn bộ lịch sử Việt Nam, trên vùng Địa - chiến lược, giao thương đặc biệt quan trọng ở vùng cửa  Đông Bắc của quốc gia có một Vân Đồn, Yên Bang, Yên Quảng hầu như  chưa bao giờ tĩnh lặng. Sự không yên lặng đó thể hiện rõ tầm tư duy chiến lược đương thời, quyết tâm và tiềm lực và tinh lực về kinh tế, chính trị, quân sự không phải chỉ của một địa phương, một thế hệ, một thời kỳ mà của cả quốc gia, của nhiều thế hệ, để đi tới một Yên Bang - yên nước vì ''Thiên Nam vạn cổ tại sơn hà (Bình yên muôn thuở nước Nam này) như lời thơ của Lê Thánh Tông trên núi Truyền Đăng..."

Phó GS,TS Nguyễn Văn Kim (Khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH&NV):

“Hiểu Vân Đồn với vị trí là một trung tâm kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong lịch sử phải có một cái nhìn tổng thể và hệ thống trong mối tương quan và liên hệ đa chiều của nó với vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc cũng như sự biến thiên của các mối quan hệ, bang giao với các quốc gia trong khu vực. Sự hình thành ba khu vực của khu thương cảng Vân Đồn có ý nghĩa hết  sức quan trọng trong việc đảm bảo những hoạt động và làm tiền đề, động lực phát triển cho nhau. Trong các hoạt động kinh tế, văn hoá, chính trị đa dạng đó vùng trung tâm thương cảng có vai trò hết sức quan trọng. Nhưng nó chỉ có thể thực hiện được vai trò và thể hiện được vị thế của mình trong sự hỗ trợ và mối quan hệ tương hỗ với các khu vực khác...”.

Phó GS, TS Nguyễn Khắc Sử (Viện Khảo cổ học Việt Nam):

“Di tích khảo cổ không chỉ là pho sử biên niên, mà còn là thẻ căn cước của các dân tộc trong thế giới hội nhập. Làm mất di tích là đánh mất mình giữa biển khơi, như người mất trí nhớ, không thể đưa con thuyền đến bến bờ chiến thắng với đúng nghĩa của nó. Như vậy, văn hoá biển Việt Nam thời tiền sử và hiện đại đều có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển  kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam và khu vực. Các di tích khảo cổ là một phần di sản văn hoá nhân loại, cần được nghiên cứu bảo vệ và phát huy đặc biệt...''.

Phó GS, TS Lê Hồng Lý (Viện Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật Việt Nam):

''Việc xây dựng những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, như kế hoạch  đối với vùng ven biển, là vấn đề cần thiết. Nó đòi hỏi sự điều tra, khảo sát và  nghiên cứu kỹ càng của nhiều ngành khác nhau. Có như vậy mới có một cái nhìn bao quát khi hoạch định những chính sách phù hợp cho mỗi địa phương trong quy hoạch tổng thể của từng vùng trong cả nước...”.

Phạm Hồng Cẩm (Ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh):

“Để tôn vinh những giá trị văn hoá truyền thống, vì sự phát triển văn hoá và khẳng định bản sắc văn hoá, vì những giá trị thiêng liêng của một vùng biển đảo, trước hết chúng ta cần phải tiến hành quy hoạch, lập dự án bảo tồn tôn tạo; đồng thời có kế hoạch phát huy tác dụng của các di tích, di sản văn hoá đó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông Bắc và đất nước...”

PV (Ghi)

Cùng chuyên mục