Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi bắt đầu trong một quán cà phê nhỏ sát chân núi Bài Thơ. Vũ Thị Hạnh - tác giả của tiểu thuyết ''Dòng sông lạnh'' (Nhà Xuất bản Văn học - 2008) hóa ra là một cô thợ gạch Giếng Đáy 24 tuổi, bé lũn cũn với đôi bàn tay đầy vết chai - dấu vết của một tuổi trẻ quá nhọc nhằn. Nhưng điều tôi quan tâm là nghị lực sống của một con người hơn là những trang văn vừa được viết ra.
- Cô đã đi nhiều nơi chưa nhỉ?
- Chưa. Làm gì có tiền để đi đâu. Học hết cấp 2 tôi đã phải nghỉ vì mình mẹ không lo nổi. Dưới tôi còn hai em nhỏ nữa. Lương mẹ tôi, mẹ cả giữ. Bố tôi hai bà. Bà nào cũng chỉ đẻ toàn con gái. Sau đó, bố tôi có “cho” một cặp vợ chồng vô sinh, không ngờ được một thằng cu. Lúc sắp qua đời, ông viết di chúc lại có nhắc đến đứa em chưa biết mặt của tôi. Sau khi cha mất, mẹ cả hầu như không ra nữa. Ngày sang cát cho ông, sáu chị em và hai bà mẹ không ngồi chung được một mâm. Đáng lẽ phải thương nhau hơn vì bố đã mất rồi. Bố tôi là khổ nhất. Nhà tôi ai cũng khổ. Mẹ tôi làm đàn ông nhiều hơn là đàn bà. Cả tôi cũng vậy 21 tuổi đã phải gả chồng. Tôi luôn thèm được về lại quê nội như hồi bố tôi còn sống. Tôi thích đi chợ quê. Chẳng có gì đâu. Nhưng buổi sớm ra chen chúc sướng lắm. Không khí thanh bạch và mộc mạc. Tôi rất thích ngửi mùi đồng ruộng và khói rạ. Quê nội tôi là một vùng quê nghèo của Hưng Yên, chỉ mấy nghìn cá khô, đủ ăn vài ngày.
- Cuốn sách này được viết ra như thế nào? Khi ấy cô bao nhiêu tuổi và những nhân vật trong đó với cô có một mối liên hệ nào không?
- Nó được viết vào những buổi tối không biết làm gì. Cũng chẳng biết đi đâu. Nhà tôi ở là một vùng đồi quạnh quẽ. Ngày ấy tôi vừa chớm tuổi 20. Tôi sinh ngày 23-10-1984. Cuốn sách là một phần bóng dáng gia đình tôi. Kim - một trong số nhân vật chính nết na, đằm thắm, tinh tế là giấc mơ của tôi.
- Cô có cảm thấy khó nhọc không, nhất là lại phải viết tay như thế?
- Rất nhiều là khác. Và tôi phải buông bút. Có vô số lý do mệt mỏi. Trước hết là công việc ban ngày quá nặng nhọc. Thợ gạch chứ có phải thợ thêu đâu. Tôi ít khi được ăn no. Bữa cơm ca bốn nghìn bạc thì tồi tàn. Chỉ có mỗi món canh được húp tẹt ga vì lõng bõng toàn nước. Trước đây tôi làm ở một lò ''liên tục'' tức là đốt liên tục và phải đưa gạch vào ra lò 24/24 giờ.
Tôi đẩy xe, mỗi chuyến khoảng 120 viên gạch. Năng suất lúc đó của tôi rất thấp. Rồi khi ra lò thì cực lắm. Nóng và bụi. 2 khẩu trang, 1 khăn bông mà mũi vẫn đầy đất. Cước chằm nón phải chảy ra. Sau đó chuyển sang tạo hình vì các chú ấy thương tôi bé quá. Bây giờ công việc chính của tôi là gọt ba-via. Mỗi ngày phải đủ trên một nghìn viên ngói. Hết việc lại đi xe gạch. Có ngày phải xe tới năm - sáu nghìn viên gạch. Chú không tin à? đây này, các đầu ngón tay đây này. Phôi khô cũng phải cố mà ấn. ấn mãi đến bướu cả ngón... Trong cuốn sách tôi có viết về chuyện đó. Rất nhiều trang nói về cuộc sống ấy. Tất nhiên những trang tôi thích nhất vẫn là những trang viết về tình yêu, lòng chung thủy, sự trinh tiết...
- Có lúc nào phải khóc vì cơ cực không?
- Hồi xưa thôi. Có hôm tôi phải đẩy cái goòng gạch 240 viên. ''Lồi tù và'' ra nó cũng không đi! Nói chung nghề của tôi là một nghề lao lực. ''Thổ mộc'' mà...
- Và đó cũng là lý do đưa cô đến với văn chương?
- Có lẽ thế. Mười bảy tuổi tôi vẫn chỉ biết có hai ngả đường. Một vào nhà máy. Một ra ga vào mỗi sớm tinh mơ để bán rau cho mẹ. Cuộc sống nhọc nhằn quá. Cô đơn nữa. Tôi không có tiền mua sách. Chỉ vớ được những tờ báo cũ còn dễ. Thật lòng, tôi chẳng biết nhà văn nào vào nhà văn nào để mà theo hay không theo. Tốt nhất là tự viết ra. Một cách làm bạn với chính mình bằng những nhân vật cũng từ mình. Vào cuộc, tôi bắt đầu luôn bằng tiểu thuyết.
- Cô quan niệm tiểu thuyết là thế nào và môi trường chật hẹp của một đời sống ít cơ hội giao lưu có làm khó cho cô trong việc xây dựng và xử lý mối quan hệ giữa các nhân vật hay không?
- Tôi nghĩ rất đơn giản, tiểu thuyết là một câu chuyện dài. Một cuộc đời dài. Đến đủ thì đi. Còn môi trường chỉ là cái sân khấu ước lệ cho nhân vật thể hiện tính cách và số phận của mình. Tuy nhiên, tôi chẳng biết tí gì về lý thuyết văn chương cả. Mà như thế, có lẽ lại tốt hơn. Cứ để nỗi buồn của mình tự nó thành chữ nghĩa.
- Dù sao, cô cũng vẫn thành công rất sớm, đúng không?
- Không hẳn thế. Đúng ra thì tôi đã từng thất bại một lần. Đó là vào năm 2003 khi tôi viết xong cuốn truyện đầu tiên (cứ cho là tiểu thuyết) hơn 400 trang. Truyện kể về một tình yêu. Tôi đưa cho mấy người cùng làm đọc, họ bảo: “Mày nói phét. Đó không phải cuộc sống của chúng tao, cũng chẳng phải cuộc sống của mày. Làm chó gì lắm điều tốt đẹp đến thế!” Sau đó, tôi cứ buồn mãi.
- Cô có nghĩ sẽ viết văn và bỏ hẳn nghề cực nhọc hiện nay không?
- Không. Viết văn còn ''khổ sai'' gấp hai lần. Đẩy gạch xong là xong. Tôi chỉ nghĩ viết văn để giãi bày thôi. Tôi không hề nghĩ đến việc bỏ nghề thợ gạch. Nhất là giờ đây, tôi vừa phải nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng cũng là một thợ làm gạch nghỉ mất sức, từ lâu chẳng còn được hưởng chế độ nào nữa. Tất nhiên, tôi chẳng thể bỏ văn chương. Cuộc sống mà suốt ngày chỉ cắm mặt sau chiếc xe bò gạch, còn gì buồn hơn nữa? Nhưng với tôi, nghề nghiệp đang làm vẫn phải là trên hết. Nó là cơm áo hàng ngày của cả nhà. Chểnh mảng là đói.
- Phải làm vợ và làm mẹ sớm thế, cô nghĩ như thế nào về gia đình?
- Nó vừa là gánh nặng. Vừa là chỗ dựa tinh thần và sự dỗ dành dịu ngọt. Chẳng có nỗi lo nào bằng lo con ốm. Chẳng có nỗi buồn nào bằng nỗi buồn cãi nhau với chồng. May thay, tôi luôn được chia sẻ mọi điều vì chồng tôi cũng cùng nghề làm gạch. Bởi vậy, đôi khi dù mệt mỏi tôi vẫn cố gắng có mặt ở nhà máy. Khác hẳn khi cuốn sách đang viết dở, chỉ mong được ốm một ngày để được ngủ no nê.
- Bây giờ, mong muốn lớn nhất của cô là gì?
- Cu con chóng lớn để mẹ cháu có thời gian học bổ túc cho xong hết cấp 3.
- Nhưng nhỡ nó chưa kịp lớn đã lại “vẫy gọi” tiếp một cu em nữa thì sao?
- Chả dại gì ''dâng đời'' một ''tác phẩm'' chính mình cũng không muốn đọc!
- Còn điều thứ hai.
- Mua một chiếc máy tính. Cũ thôi cũng được. Viết tay cực lắm.
- Vậy là cô đã lại bắt đầu ngay một cuộc khởi sự mới?
- Vâng, tôi vừa in một số truyện ngắn. Nhưng tôi cũng đã manh nha một cuốn về quê nhà. Về dòng họ của mình. Mặc dù tôi chỉ được sống ở đó có sáu năm. Tôi nghĩ rất nhiều về bố tôi, mẹ cả và các chị của tôi. Tôi nhớ ngôi nhà có cây bòng ngoài ngõ, cành đâm ngang ban đêm nhìn tựa như chiếc giá treo cổ. Cả cái đống rạ rất to ở chái hồi. Mùa đông, tôi thường chui vào đó ngủ cùng với lũ chó con. Trong ký ức u buồn của tôi, vẫn còn nguyên cả mùi vị ngọt ngào của những chiếc nấm rạ nướng trong lá mướp...
Vâng, với tôi mọi cái đều mới chỉ là sự khởi đầu hết sức mong manh.
- Xin cảm ơn cô!